.jpg) |
Một trang của gia phả .Đỗ Thái Bình chụp lại từ bản ông Đỗ Văn Liết đưa cho |
Ngày 16-4-1998 tức ngày 20 tháng 3 năm Mậu Dần, Ban thường trực họ Đỗ
Đại Tôn họp bàn và thống nhất việc sao chép và viết tiếp cho đến thế hệ thứ 12
cuốn gia phả của cụ Đỗ Khắc Nhượng và cụ Đỗ Văn Phong viết từ giữa thế kỷ 18
bằng chữ Hán-Nôm đã được dịch sang chữ Quốc ngữ năm 1990.
Tôi, Đỗ Ngọc Ngại, được Ban
thường trực phân công làm việc đó. Tôi đã đem hết nhiệt tình để biên soạn và
trình bày những biến cố ở thế kỷ 20 có liên quan đến họ ta một cách trung thực,
ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu cho thế hệ mai sau biết về tổ tiên của mình.
Ngày Giỗ Tổ, 10-4 năm Mậu
Dần, bản dự thảo đã được thông qua trong toàn gia tộc. Ban thường trực của họ
có thành lập một ban sưu tầm tư liệu để viết gia phả, gồm có:
Thế hệ thứ 9 Ông Đỗ Văn Liết, 74 tuổi, trưởng họ.
Thế hệ thứ 9 Ông Đỗ Năng Thoại, 62 tuổi.
Thế hệ thứ 9 Ông Đỗ Ngọc Ngại, 64 tuổi, chấp bút.
Thế hệ thứ 10 Bác Đỗ Văn
Khôi, 64 tuổi, cháu đích tôn.
Thế hệ thứ 10 Bác Đỗ Văn Nghi, 45 tuổi.
Bản Dự thảo được ông Đỗ Như
Lân (chi Mai Lĩnh) làm chế bản.
Ông Đỗ Quang Hoan đã chỉnh
lý lần cuối trước khi đưa in.
Lời nói đầu
Họ Đỗ Phúc Lương theo quan
Quận công thuở ban đầu lập nên làng ấp, qua các thời kỳ tên làng được gọi tên
là ấp He, làng Mơi, Mai thôn... làng Xuân Mai, xã Xuân Phương, tổng Kim Anh,
huyện Kim Anh, tỉnh Phúc Yên.
Gia phả họ Đỗ Phúc Lương ta
có bút tích từ giữa thế kỷ 18 do cụ Đỗ Khắc Nhượng viết bằng chữ Hán-Nôm. Cụ
Nhượng, con thứ tư của cụ Đỗ Phúc Thọ, là thế hệ thứ 6 của dòng họ, thuộc chi
Hanh họ đại tôn.
Đến năm 1902, cụ Đỗ Văn
Phong, thế hệ thứ 7, là con cụ Đỗ Phúc Nghị có sao chép và viết tiếp gia phả
các chi trong họ đại tôn.
Cuối thế kỷ 20, năm 1998, cháu
chắt là thế hệ thứ 9 thứ 10 của họ Đỗ Phúc Lương lại sao chép, viết tiếp và bổ
sung những sự kiện sau 1945 của họ Đỗ ta ở tại thôn Xuân Mai, xã Phúc Thắng,
huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc. Gia phả được sao chép và bổ sung (ông Đỗ Ngọc
Ngại chấp bút) từ thế hệ thứ nhất đến thế hệ thứ 12 để họ Đỗ ta sống trường tồn
với trời đất và lưu truyền cho muôn đời con cháu mai sau.
Nhân viết tiếp cuốn gia phả
lần này, theo sự phát triển của xã hội, chúng tôi cũng muốn bày tỏ quan điểm
của mình về vai trò của phụ nữ trong họ ta.
Các cụ ông tổ tiên họ ta, phải trải qua các thời kỳ
chính trị, xã hội biến đổi khác nhau, phải khắc khổ bao nhiêu thì các cụ bà tổ
tiên họ ta cũng nằm trong vòng đời thác lũ ấy. Chưa kể các cụ Bà còn có một
thiên chức là sinh con, đẻ cái để nối dõi tông đường cho một sự tồn tại của
dòng họ. Cụ bà từ cụ thủy tổ đến các cụ đời thứ 9 đi làm dâu hiền đã khó, nhưng
làm dâu hiền của một dòng họ có gia phong, gia giáo lại càng khó hơn. Các cụ
phải bươn trải giữa dòng đời thác lũ... không thể nói hết cuộc đời vất vả nhọc
nhằn của các cụ, lần giở các tài liệu cũ, trước đây, ít nói về các cụ Bà có lẽ
người xưa cho rằng thà không nói còn hơn nói thiếu?
Gia phả được viết lại trung
thực, chính xác, câu chữ mộc mạc. Tài liệu được sưu tầm, ghi chép theo nguyên bản
mong độc giả bổ sung và góp ý sửa chữa những thiếu sót, nếu có.
Làm được như vậy thì tổ tiên
ta tuy đã mất mà vẫn như còn, các thế hệ sau này khi mở gia phả ra xem lại nhớ
đến tổ tiên, làm theo truyền thống tốt đẹp của cha ông để lại.
Họ Đỗ ta như một viên ngọc
quý ở trong tấm gương sáng đã trải qua các cơn lốc bụi trần, đến nay ngọc vẫn
sáng mà gương thì không mờ chút bụi. Vinh dự và tự hào thay!
Bản dịch cuốn gia phả họ Đỗ
Cụ Đỗ Khắc Nhượng viết bằng Hán-Nôm từ thế kỷ 18.
Năm 1902 cụ Đỗ Văn Phong sao
chép lại và viết tiếp.
1. Các thế thệ
Thế hệ thứ nhất : Đỗ Phúc Lương
Thế hệ thứ hai : Đỗ Phúc Khánh
Thế hệ thứ ba : Đỗ Phúc Đắc
Thế hệ thứ tư : Đỗ Phúc Linh
Thế hệ thứ năm:
1. Chi Càn : thủy
tổ Đỗ Phúc Trưởng
2. Chi Nguyên: thủy tổ Đỗ Phúc Tĩnh
3. Chi Hanh : thủy tổ
Đỗ Phúc Thọ
4. Chi Lợi : thủy
tổ Đỗ Phúc Chính
5. Chi Chinh : thủy tổ
Đỗ Phúc Tình
2. Mộ các cụ tổ (từ thế hệ thứ nhất đến thế hệ thứ 8).
Phần này không dịch vì năm 1966, theo quy hoạch của địa phương, tất cả
các ngôi mộ đều được chuyển về nghĩa trang Đồng Gò, thôn Xuân Mai, xã Phúc
Thắng.
3. Ngày giỗ các cụ tổ.
Cụ ông Đỗ Phúc Lương 10
tháng 4.
Cụ bà (thất truyền)
Cụ ông Đỗ Phúc Khánh 12 tháng 4
Cụ bà Nguyễn Diệu Nhân 17 tháng 9
Cụ ông Đỗ Phúc Đắc 12 tháng 5
Cụ bà Nguyễn Diệu Kim 28
tháng 5
Cụ ông Đỗ Phúc Linh 21 tháng 5
Cụ bà Nguyễn Diệu Bình 18 tháng 2
4. Lời tựa cuốn gia phả viết năm 1902
Gia đình phải có gia phả để ghi lại tên tuổi, cuộc đời để cho con cháu
đời sau biết tìm đến tổ tiên mà ngưỡng mộ, mà không quên nguồn gốc của mình. Họ
Đỗ nhà ta từ xưa đến nay tốt tươi như cây cỏ mùa xuân.
Từ cụ Đỗ Phúc Lương đến nay,
tương truyền đã 7 đời con cháu đông đúc, là họ lớn trong làng ấp, trước đây đã
từng có gia phả do ông chú tôi là Đỗ Khắc Nhượng viết, còn sơ lược, vì vậy nay
tôi sửa lại để cho người đời sau xem xét và suy nghĩ.
Vậy nay bàn với những người
trong họ, thu thập tài liệu còn tản mạn những vấn đề về dòng họ, tất cả đều
được tra cứu kỹ càng để làm tiếp gia phả cho con cháu đời sau khi nhớ đến tổ
tiên có thể mở ra xem.
5. Lời dẫn
Đỗ Phúc Lương là thủy tổ của
họ ta, đến thời chắt (thế hệ thứ tư) là Đỗ Phúc Linh sinh được 5 người con trai
chia thành 5 chi: Chi Càn, chi Nguyên, chi Hanh, chi Lợi, chi Chinh.
Thủy tổ chi Càn là Đỗ Phúc
Trưởng sinh ra Đỗ Văn Man, thủy tổ chi Chinh là Đỗ Phúc Tình sinh được 3 con
trai nhưng đều mất sớm.
Hiện nay chỉ còn 3 chi đó là
chi Nguyên, chi Hanh, chi Lợi. Dòng dõi thuộc về các chi đó là Phúc Tĩnh thuộc
về chi Nguyên, Phúc Thọ thuộc về chi Hanh, Phúc Chính thuộc về chi Lợi.
Họ Đỗ có ngôi mộ phát thuộc
về chi Lợi, tương truyền ở xứ đồng Cánh Tiên (địa phận thôn Bến). Các nhà phong
thủy nói rằng phát cả về văn võ và làm ăn.
Cụ tổ (thế hệ thứ tư) Đỗ
Phúc Linh mộ tại Mả Tía, đặt tại góc ruộng, giáp địa phận thôn Thượng Mới, các
nhà phong thủy nói rằng đất ấy phát về con trai và của cải, con cháu 3 chi cần
phải chăm chỉ trông nom sửa sang và giữ gìn phần mộ.
Họ ta phát về văn, mở đầu
bằng một ống Tú tài, về võ có một ông cầm quân, còn các bậc hào phú thì đời nào
cũng có.
Họ ta, vào ngày 14 tháng 8
năm Ất Dậu (1885) đời vua Hàm Nghi, bị nạn phỉ nhà Thanh do tên ngụy tổng Cổ
Bái, xưng là đề đốc gây nên. Sau đó là tàn quân của Lưu Vĩnh Phúc đến tàn phá
nhà cửa thôn ta, đốt cháy trụi, giết chết hơn trăm người, bắt đi năm trăm
người. Trong số những người bị giết, họ ta có Văn Man con ông Văn Trưởng, Văn
Nhân con ông Văn Nhượng. Trong số những người bị bắt, họ ta có Thị Gạch, Thị
Am, Thị Tư, Thị Cầm, Thị Hoằng, Văn Lương, Văn Y, Văn Tỉnh, đến năm Canh Tý đều
được trở về.
6. Lời dẫn bổ sung
Theo quan quận công, ở trong làng cả thảy có 3 họ Đỗ, nghi là cùng
chung một nguồn gốc, nhưng gia phả không ghi rõ ràng, không biết tra cứu ở đâu,
vì vậy xin ghi chép thêm phần phụ sau.
Gia phả họ Đỗ ghi cụ thủy tổ
đời thứ nhất còn lại cứ theo đó mà tính thứ tự như sau:
1. Đời thứ nhất: cụ ông là
Đỗ Phúc Lương là thủy tổ họ Đỗ, giỗ ngày 10 tháng 4, táng tại Bờ Chùa, sinh
được 2 người con trai, con trưởng là Đỗ Phúc Khánh. Cụ bà bị thất truyền.
2. Đời thứ hai: cụ ông là Đỗ
Phúc Khánh, giỗ ngày 12 tháng 4, cụ bà là Nguyễn Diệu Nhân sinh được 3 người
con trai, con trưởng là Đỗ Phúc Đắc.
3. Đời thứ ba: cụ ông là Đỗ
Phúc Đắc, giỗ ngày 21 tháng 5, cụ bà là Nguyễn Diệu Bình, sinh được 5 người con
trai, chia làm 5 chi:
v Chi Càn, Đỗ Phúc Trưởng,
thọ 70 tuổi, sinh được 1 con trai, 3 con gái. Con trai bị chết do nạn phỉ tàn
quân nhà Thanh giết. Vì mất sớm, không có con cái, chi Nguyên cúng giỗ. Táng
tại Đồng Sau.
v Chi Nguyên, Đỗ Phúc Tĩnh, cụ bà Hoàng Diệu
Mỹ, sinh được 3 trai, 1 gái: Đỗ Thơ, Đỗ Thi, Đỗ Thư.
v Chi Hanh, Đỗ Phúc Thọ, thọ 70 tuổi, cụ bà
Nguyễn Diệu Thái và Nguyễn Diệu...(?) cụ bà cả sinh được 2 con trai: Đỗ Tân, Đỗ
Nghị; cụ bà hai sinh được 3 trai, 2 gái: Đỗ Soạn, Đỗ Nhượng, Đỗ Giản.
v Chi Lợi, Đỗ Phúc Chính, cụ bà họ Nguyễn sinh
được 2 con trai: Đỗ Kinh, Đỗ Kỳ.
v Chi Chinh, Đỗ Phúc Tình, thọ 70 tuổi, cụ bà
sinh được 3 trai, 1 gái. Con trai đều bị mất sớm, con gái là Diệu Tưởng lấy
chồng họ Ngô, có rất nhiều cháu, chắt sau này.
4. Đỗ thi hợp tộc.
Thế hệ thứ 5 chỉ còn 3 chi:
Chi Nguyên, Đỗ Phúc Tĩnh
Chi Hanh, Đỗ Phúc Thọ
Chi Lợi, Đỗ Phúc Chính
Thế hệ thứ 6:
Chi Nguyên, Đỗ Phúc Tĩnh sinh được Văn Thơ, Văn Thi, Văn Thư.
Chi Hanh, Đỗ Phúc Thọ sinh được Văn Tân, Văn Nghị, Văn Soạn, Văn Giản.
Chi Lợi, Đỗ Phúc Chính sinh được Văn Kinh, Văn Kỳ.
Thế hệ thứ 7:
Chi Nguyên:
Đỗ Phúc Thơ sinh được Văn
Tá, Văn Tả.
Đỗ Văn Thi sinh được Văn
Cầm, Văn Thứ, Văn Tảo.
Đỗ Văn Thư sinh được Văn
Chừng.
Chi Hanh:
Văn Nghị sinh được Văn Hy, Văn Nhiêu, Văn Thanh.
Văn Soạn sinh được Văn Chứ,
Văn Minh.
Khắc Nhượng sinh được Văn
Cung, Văn Kiệm, Văn Nhân, Văn Lương, Văn Y.
Văn Giản sinh được Văn
Khiêm, Văn Tỉnh.
Chi Lợi:
Văn Kĩnh sinh được Văn Sỹ,
Văn Mã.
Văn Kỳ sinh được Văn Khê,
Văn Lệ.
Thế hệ thứ 8:
Chi Nguyên:
Văn Tả sinh được Văn Viên.
Văn Thứ sinh được Văn Côn,
Văn Phiên, Văn Thiêm.
Văn Tảo sinh được Văn Bán,
Văn Chác, Văn Hân, Văn Phấn.
Chi Hanh:
Văn Hy sinh được Văn Thùy (Quang Thùy), Văn Ngữ.
Văn Thanh (Văn Phong) sinh được Văn Nghệ, Văn Kiêm, Văn Kỳ, Văn Phượng
(Như Phượng), Văn Năm, Văn Mai (Xuân Mai), Văn Ngọc (Như Ngọc).
Văn Minh sinh được Văn Đạt.
Văn Cung sinh được Văn Cạch,
Văn Chí, Văn Chung.
Văn Kiệm sinh được Văn Cần.
Văn Khiêm sinh được Văn
Chiêm.
Văn Tỉnh sinh được Văn Hánh.
Chi Lợi:
Văn Sỹ sinh được Văn Ủy.
5. Vài nét về chi Hanh.
Theo lệ thường lấy cao tằng
tổ khảo (đời cụ) làm chuẩn để phân biệt các đời, cũng tùy theo các đời mà có
cách gọi khác nhau, nếu như gia phả mà cách gọi và cách viết khác nhau thì bất
tiện đến chừng nào. Vì vậy làm từ đầu phân các chi phải làm đời thứ nhất, còn
lại cứ theo đó mà tính đồng thời hợp với mấy thế hệ trước chi làm mấy đời có
ghi chú kỹ càng.
Đời thứ nhất chi Hanh, cụ tổ
quan viên Phú lương Đỗ Phúc Thọ là con thứ ba cụ Đỗ Phúc Linh, tính tình lương
thiện, chất phác trung thực hiếu học, gia tư tương đối khá giả, nuôi con ăn học
hy vọng trưởng thành. Cụ rất cần mẫn, làm gương cho con cháu, thường lấy lòng
thành để đãi các bậc già cả trong làng. Dân trong vùng thường ca ngợi họ Đỗ của
cụ là một vọng tộc. Năm con trai của cụ Thọ đều thông minh hiếu học: con cả cụ
là Văn Tân, 18 tuổi thi đỗ nhị khoa tú tài năm Quý Mão và năm Bính Ngọ đời Minh
Mạng, mất ngày 23 tháng 8 năm Kỷ Dậu (1849) thọ 24 tuổi. Con thứ, Văn Nghị, thi
đỗ làm quan phủ, huyện. Con thứ, Văn Soạn, thi nhị trường làm cai chánh tổng.
Con thứ, Khắc Nhượng, làm lý trưởng, được các bậc bô lão trong làng kính trọng.
Con thứ, Văn Giản, nay con cháu ở làng Thanh Trí.
Cuốn gia phả được dịch sang tiếng Việt xong ngày 01 tháng 5 năm 1990.
Đôi lời giới thiệu 3 ngôi từ
đường
Nhà Từ Đường họ Đỗ
Đại Tôn
Từ xa xưa, họ Đỗ Đại Tôn ta có nhà thờ, có ruộng đất để thờ cúng tổ
tiên và chi phí hàng năm ở trong Họ. Nhưng vì biến cổ của lịch sử, đến nay
không còn nữa. Từ đấy Họ cũng giỗ Tết ở nhà ông Đỗ Văn Viên là trưởng Họ của
thế hệ thứ 8. Ông Đỗ Văn Viên không có con trai để thừa kế, theo đúng tôn ty,
“sa vai xuống cánh”, thì ông Đỗ Văn Liết là cháu đích tôn làm trưởng họ thế hệ
thứ 9, họ lại cúng giỗ Tết tổ tiên tại nhà ông Liết.
Nhà Từ Đường chi Hanh (còn
gọi là nhà thờ Họ Tứ Chi)
Cụ Đỗ Công, tự Phúc Linh là thế hệ thứ tư của họ Đại Tôn sinh được 5
người con trai, cụ đặt tên cho 5 chi là Chi Càn, Chi Nguyên, Chi Hanh, Chi Lợi,
Chi Chinh. Năm chi đều có nhà thờ tổ riêng. Do biến cố của lịch sử, đến thế hệ
thứ tám chỉ còn một ngôi Từ Đường của chi Hanh. Các thế hệ nối tiếp của chi
Hanh đã nhiều lần trùng tu, tôn tạo ngôi Từ Đường mới được tồn tại đến ngày
nay.
Nhà Từ Đường Mai
Lĩnh
Trước năm Giáp Ngọ (1954), cụ Đỗ Văn Phong có 7 người con trai vẫn
chung sống với nhau dưới tên nhà Mai Lĩnh. Tại làng Xuân Mai, lúc ấy có cụ Tư,
Đỗ Như Phượng và mấy người chị dâu, em dâu, đại diện cho 6 anh em từ Hà Nội đến
Sài Gòn chung sống. Nhà Mai Lĩnh có đầy đủ ruộng vườn, nhà thờ tổ tiên. Nhưng
do biến cố của lịch sử, tài sản của nhà Mai Lĩnh bị tịch thu toàn bộ để chia
cho dân. Hơn 40 năm, con cháu nhà Mai Lĩnh phải trải qua một cuộc dâu bể, vật
đổi, sao dời để tồn tại và phát triển.
Đến năm 1996, họ đã mua lại được ngôi đất của một người nông dân đã
được chia của nhà Mai Lĩnh năm 1955 để xây dựng nên ngôi Từ Đường Mai Lĩnh.
Ngày 6 tháng 12 năm 1996 (tức ngày 26 tháng 10 năm Bính Tý), ngày giỗ
Cụ Đỗ Văn Phong, Từ Đường Mai Lĩnh làm lễ khánh thành, tôi có may mắn được tới
dự, ngắm nhìn thật là trước cảnh cũ mà mới, trước người xưa mà lạ, 42 năm gián
đoạn, hôm nay Từ Đường lại tỏa khói hương.
Con cháu nhà Mai Lĩnh, thế hệ thứ 9 thứ 10 của dòng họ, đã xây dựng lên
ngôi Từ Đường trên chính mảnh đất của tổ tiên mình. Đây không biết có phải là
một sự ngẫu nhiên hay là hồn thiêng khí phách của các cụ tổ tiên nhà Mai Lĩnh
đã xui khiến họ kiến tạo nên công trình văn hóa này để lại cho muôn đời con
cháu mai sau!
HỌ ĐỖ PHÚC LƯƠNG
Đỗ Ngọc Ngại chấp bút
Tổ tiên của họ Đỗ ta theo quan Quận công từ đời vua nhà Hồ đã khai phá
đất đai, lập nên làng ấp. Từ khi mới khai sinh, địa dư hành chính của các tỉnh,
huyện chưa như bây giờ. Chỉ nói tỉnh thôi, thì thuộc về tỉnh Sơn Tây, có thời
thuộc về tỉnh Bắc Ninh, sau này tách ra là tỉnh Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Yên, sáp
nhập 2 tỉnh gọi là Vĩnh Phúc, sáp nhập 3 tỉnh gọi là Vĩnh Phú. Đến năm 1997 lại
tách tỉnh Vĩnh Phú làm Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Khi viết những dòng chữ này thì
địa dư hành chính họ Đỗ ta là: thôn Xuân Mai, xã Phúc Thắng, huyện Mê Linh,
tỉnh Vĩnh Phúc.
Họ Đỗ ta đã có từ lâu nhưng đến thế kỷ 18 mới có bút tích gia phả sử
thi. Căn cứ vào bút tích gia phả, lấy cụ Phúc Lương làm thủy tổ thì các cụ tổ
tiên họ ta từ đời thứ nhất đến đời thứ năm là dạy học và theo nghề làm ruộng.
Đến đời thứ sáu, thứ bảy các cụ có trình độ học vấn cao, thi đậu cử
nhân ra làm quan như cụ Đỗ Phúc Nghị ở chi Hanh, làm quan phủ ở Phủ Đa Phúc,
phẩm hàm Hàn lâm; cụ Đỗ Văn Kỳ ở chi Lợi, làm quan Chánh Lãnh binh ở tỉnh Sơn
Tây. Cụ Kỳ đã quyên góp tiền vàng để đúc một quả chuông nặng gần một tấn công
đức vào chùa làng ta. Cụ Đỗ Văn Thứ, cụ Đỗ Văn Phan ở chi Nguyên; cụ Đỗ Văn
Cung, cụ Đỗ Văn Kiệm ở chi Hanh là những thầy đồ, dạy cho nhiều thế hệ học sinh
trong vùng. Địa vị xã hội ở địa phương có cụ Đỗ Văn Nhiêu làm chánh tổng, cụ Đỗ
Khắc Nhượng làm lý trưởng, cụ Đỗ Văn Cung làm tiên chỉ, cụ Đỗ Văn Hy làm lý
trưởng; thế hệ sau có cụ Đỗ Văn Ngữ làm lý trưởng, cụ Đỗ Văn Chí làm tiên chỉ,
cụ Đỗ Quang Thùy làm thủ bạ; thế hệ tiếp theo có cụ Đỗ Văn Mai làm xã ủy, cụ Đỗ
Văn Hà làm phó lý, cụ Đỗ Văn Chi làm trưởng bạ, cụ Đỗ Văn Quý làm thủ quỹ, cụ
Đỗ Quang Hỗ làm trưởng bạ...
Đặc biệt có cụ Đỗ Văn Phong học rộng, tài cao có lòng yêu nước nồng
nàn, cụ tham gia phong trào Đông kinh Nghĩa thục nhằm giải phóng dân tộc khỏi
ách nô lệ của thực dân Pháp.
Năm Ất Dậu (1885), họ Đỗ ta bị vận hạn lớn do bị bọn phỉ Lưu Vĩnh Phúc
đã tàn phá làng ta, họ Đỗ phải nhiều năm mới khôi phục lại được.
Đến đời thứ tám, thứ chín thì vừa oanh liệt vừa thành công nhất từ
trước đến nay.
Thế nào là
oanh liệt?
Năm 1955, chính sách Cải cách ruộng đất được thực thi trên quê hương.
Các gia đình trong họ đều bị ảnh hưởng lớn, kẻ mất người còn, cha bỏ con, vợ bỏ
chồng, anh em ly tán. Đến năm 1957 có chính sách sửa sai, các gia đình bị xử
trí sai mới được giải oan, nhưng ảnh hưởng chính trị thì thế hệ thứ 9 vẫn phải
gánh chịu.
Mãi đến ngày 01-12-1985, lần
đầu tiên anh em Họ ta mới đoàn tụ, sum họp theo truyền thống của cha ông sau 30
năm gián đoạn.
Còn thành công là gì?
Sau CCRĐ năm 1955, họ ta phải lội ngược dòng thác lũ để tồn tại và phát
triển. Ngày 01-12-1985 (tức ngày 20 tháng 10 năm Ất Sửu), các cụ bô lão trong
họ ta đã về nhà ông Đỗ Văn Liết là trưởng họ để bàn việc khôi phục các truyền
thống tốt đẹp của tổ tiên. Họ ta có nhà thờ, có ruộng đất để chi cho những ngày
giỗ tổ, nhưng sau CCRĐ không còn nữa. Các cụ đã thống nhất góp quỹ mỗi hộ 30kg
thóc, trên 60 hộ như vậy có trên 2 tấn thóc, hằng năm dùng số lãi để chi các
việc sau đây:
1. Ngày Giỗ Tổ 10 tháng Tư.
2. Ngày Tảo mộ 19 tháng
Chạp.
3. Mừng thọ các cụ cao tuổi.
4. Mừng cưới các con, cháu
lấy vợ, lấy chồng.
5. Thăm hỏi các cụ yếu đau.
6. Thưởng các cháu thi đỗ
vào Đại học.
7. Viếng các cụ trăm tuổi
qua đời.
Họ đã bầu ra một ban thường
trực để giải quyết các công việc hàng năm.
1. Bác Đỗ Văn Khôi : Phụ trách chung.
2. Ông Đỗ Ngọc Ngại : Thư ký.
3. Bác Đỗ Văn Nghi : Thủ quỹ.
Sau đó họ bầu bổ sung ông Đỗ Năng Thoại, bà Nguyễn Thị Văn vào Ban
thường trực.
Theo truyền thống của cha
ông:
- Chi Nguyên - Ông Đỗ Văn
Liết - Trưởng họ.
- Chi Hanh - Bác Đỗ Quang
Minh - Trưởng chi.
- Chi Lợi - Bác Đỗ Văn Giao
- Trưởng chi.
- Đích tôn họ Đại tôn là bác
Đỗ Văn Khôi.
Thế hệ thứ 9, thứ 10 của họ
ta đã góp cho đất nước các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, phó tiến sĩ, thạc sĩ,
cử nhân, bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, sĩ quan quân đội... Họ Đỗ ta có 38 hộ gia đình
thì có 43 người có trình độ cử nhân trở lên công tác trong các ngành kinh tế,
giáo dục, công nghiệp, nông nghiệp, y tế, văn hóa xã hội, quốc phòng...
Chúng ta có thể ca ngợi: Họ Đỗ Phúc Lương là một vọng tộc.
CHI NGUYÊN
Thế hệ 5
|
Thế hệ 6
|
Thế hệ 7
|
Thế hệ 8
|
Đỗ
Phúc Tĩnh
Hoàng
Thị Mỹ
|
Đỗ
Phúc Thơ
|
Đỗ
Phúc Tá
|
Đỗ
Văn Man
|
Đỗ
Phúc Tả
|
Đỗ
Phúc Viên
Nguyễn
Thị Bút
|
Đỗ
Phúc Thi
|
Đỗ
Phúc Cầm
|
Đỗ
Văn Nhỏ
|
Đỗ
Phúc Thứ
|
Đỗ
Văn Phan
Đỗ
Văn Thiêm
|
Đỗ
Phúc Tảo
|
Đỗ
Phúc Ban
Đỗ
Phúc Chác
Đỗ
Văn Hân
Đỗ
Phúc Phấn
|
Đỗ Phúc Thư
|
Đỗ Phúc Chừng
|
Đỗ Phúc Chưng
Đỗ Thị Nguyên
|
Thế hệ 7
|
Thế hệ 8
|
Thế hệ 9
|
Thế hệ 10
|
Thế hệ 11
|
Đỗ
Phúc Tá
|
Đỗ
Văn Man
|
Đỗ
Văn Men
|
Đỗ
Thị Sinh
|
|
Đỗ
Phúc Tả
|
Đỗ
Phúc Viên
Nguyễn Thị Bút
|
Đỗ
Thị Viết
Ngô
Văn Tụng
|
Ngô
Văn Bách
|
|
Đỗ
Thị Kịt
Đỗ
Văn Xinh
|
Đỗ
Văn Xích
|
|
Đỗ
Thị Kít
Phan
Văn Chính
|
Phan
Văn Trực
|
|
Thế hệ 7
|
Thế hệ 8
|
Thế hệ 9
|
Thế hệ 10
|
Thế hệ 11
|
|
Đỗ Phúc Cầm
|
Đỗ
Văn Nhỏ
Nguyễn Thị Nằm
|
Đỗ
Văn Hùy
|
|
|
|
|
Đỗ
Văn Tư
Nguyễn Thị Thái
Hoàng
T Thiềng
|
Đỗ
Thị Măng
Nguyễn Văn Chinh
|
|
|
Đỗ
Văn Thêm
Nguyễn Thái Nguyên
|
|
|
Đỗ
Văn Hòa
Nguyễn
Thị My
|
|
|
Đỗ Phúc Thứ
Nguyễn Diệu Da
Trần Diệu Dụng
|
Đỗ
Văn Phan
Đỗ
Diệu Viết
Nguyễn Diệu Lân
|
Đỗ
Văn Phiên
|
|
|
|
Đỗ
Văn Liết
Đỗ
Diệu Bát
|
Đỗ
Thị Thời
Ngô
Văn Hậu
|
|
|
Đỗ
Thị Tiết
Đỗ
Thị Thảo
Đỗ
Văn Bình
|
|
|
Đỗ
Văn Đăng
Hoàng
Thị Mạnh
|
Đỗ T
Đoàn
Đỗ Văn Khoa
Đỗ Thị Hoa
|
|
Đỗ
Thị Tý
Nguyễn
V Cao
|
|
|
|
Đỗ
Văn Côn
Đỗ
Thị Cát
Đỗ
Thị Thoai
Đỗ
Thị Tiễu
|
|
|
|
|
Đỗ Phúc Thiêm
Ngô Thị Nghĩ
|
Đỗ
Thị Ngợi
Đỗ
Văn Tuy
|
|
|
|
Thế hệ 7
|
Thế hệ 8
|
Thế hệ 9
|
Thế hệ 10
|
Thế hệ 11
|
|
Đỗ Phúc Tảo
|
Đỗ Phúc Ban
Ngô
Thị Thụ
Nguyễn Thị Sắc
|
Đỗ
Văn Mai
Hoàng
Thị Ngà
|
Đỗ
Văn Khôi
Nguyễn
Thị Lép
|
Đỗ Văn Phụcl
Đinh Thị Bình
Đỗ Thị Tùng
Lưu Thiếu Kỳ
Đỗ Thị Trinh
Đỗ Văn Hán
Đỗ Văn Binh
Đặng Thị Anh
Đỗ Thị Minh
Ngô Xuân Vinh
Đỗ Văn Hoạt
|
|
|
Đỗ
Thị Hồi
|
Đỗ
Thị Hương
|
|
Đỗ
Thị Gái
Nguyễn Văn Chuyển
|
|
|
|
Đỗ Phúc Chác
Nguyễn Thị Hóa
|
Đỗ
Văn Lập
Phạm Thị Nguyên
|
Đỗ
Thị Được
Đỗ
Văn Nghiễm
|
|
|
Đỗ
Văn Thạch
Ngô
Thị Thanh
Nguyễn
Thị Hoa
|
Đỗ
Thị Thảo
Đỗ
Thị Hiền
Đỗ
Thị Ngọc
|
|
Đỗ
Văn Sùng
Nguyễn
Thị Nam
|
Đỗ
Thị Lương
Đỗ
Văn Thực
|
|
Đỗ
Thị Túc
Trần
Văn Vân
Đỗ
Thị Đủ
Đỗ
Văn Bền
|
|
|
Đỗ
Văn Hân
Hoàng Thị Đãng
|
Đỗ
Thị Đang
Đỗ
Thị Hoan
|
|
|
|
Đỗ Phúc Phấn
Ngô Thị Ty
|
Đỗ
Văn Sáp
Nguyễn Thị Xiêm
|
Đỗ
Thị Xiềm
Đỗ
Văn Tặng
|
|
|
Đỗ
Văn Phúc
Ngô
Thị Thông
|
Đỗ
Văn Thắng
Đỗ
Văn Tiến
Đỗ
Thị Thanh
Đỗ
Thị Bình
|
|
Đỗ
Văn Đương
Hoàng
Thị Long
|
|
|
Đỗ
Văn Hùng
Ngô
Thị Thu
|
|
|
Đỗ
Thị Lộc
Hoàng
Văn Soạn
|
|
|
Đỗ
Thị Lương
|
|
|
Đỗ
Văn Vĩ
|
|
|
Đỗ
Thị Nhang
Ngô
Văn Trạch
Đỗ
Thị Son
Ngô
Văn Sự
|
|
|
|
Thế hệ 7
|
Thế hệ 8
|
Thế hệ 9
|
Thế hệ 10
|
Thế hệ 11
|
Đỗ Phúc Chừng
|
Đỗ Phúc Chưng
Nguyễn Thị Mít
Nguyễn Thị Huỳnh
|
Đỗ
Văn Hà
Ngô
Thị Mịch
Ngô
Thị Cớn
|
Đỗ
Thị Hưởng
Nguyễn Văn Quảng
|
|
Đỗ
Văn Nhâm
Nguyễn
Thị Tải
|
Đỗ
Văn Liên
Đỗ
Văn Diên
Đỗ
Miên
Đỗ
Lục
|
Đỗ
Văn Giai
Đỗ
Thị Hợi
|
Đỗ
Thị Lợi
Đỗ
Thị Lộc
Đỗ
Văn Giỏi
Đỗ
Văn Dẻo
|
Đỗ Văn
Đông
Nguyễn
Thị Lê
|
Đỗ
Văn Đăng
Đỗ
Văn Đào
Đỗ
Văn Đoan
|
Đỗ
Văn Đông
Đỗ
Thị Liên
|
Đỗ
Văn Dương
Đỗ
Thị Thúy
|
Đỗ
Văn Đúc
Nguyễn
Thị Liễu
|
Đỗ
Thị Phương
Đỗ
Thị...?
|
Đỗ
Thị Hịch
Nguyễn Văn Luận
|
|
Đỗ
Văn Khê
Nguyễn Thị Thành
|
Đỗ
Văn Quý
Đỗ
Văn Quyền
Đỗ
Thị Hoa
Đỗ
Thị...?
|
Đỗ
Thị Hựu
|
|
Đỗ Văn Cường
Đỗ Văn Hải
|
|
|
Đỗ Văn Phái
Đỗ Thị Di
|
Đỗ
Thị Luận
Hoàng
Văn Thu
|
|
Đỗ Văn Chi
Đỗ Thị Ngoạn
|
Đỗ
Văn Nghi
Nguyễn
Thị Vân
|
Đỗ
Văn Hán
Hoàng
Thị Hiệp
Đỗ
Văn Hòa
Đỗ
Văn Hợp
Đỗ
Thị Hanh
Đỗ
Văn Hiệu
|
Đỗ
Văn Tuyên
Hà
Thị Ong
|
Đỗ
Thị Loan
Đỗ
Thị Thanh
|
Đỗ
Văn Diễn
Đỗ
Thị Thuận
|
Đỗ Văn Thịnh
Đỗ Thị Thủy
|
Đõ
Thị Vượng
Đỗ
Thị Ngoan
|
|
Thế hệ thứ
7:
Cụ Đỗ Phúc Tá là trưởng Họ, cụ có con nuôi là Đỗ
Văn Man sinh ra Đỗ Văn Men và Đỗ Văn Men sinh ra Đỗ Thị Sinh.
Cụ Đỗ Phúc Tả, Đỗ Phúc Cầm,
Đỗ Phúc Thứ là nhà giáo. Đỗ Phúc Tảo, Đỗ Phúc Chừng lúc sinh thời, các cụ cần
cù, hiếu học nuôi con ăn học trưởng thành. Tuổi thọ các cụ trên 70. Gia đình
kinh tế khá giả.
Thế hệ thứ 8:
Cụ Đỗ Phúc Viên, cụ bà là Nguyễn Thị Bút sinh được
3 con gái là Đỗ Thị Viết, Đỗ Thị Kít, Đỗ Thị Kịt. Cụ Viên là một trưởng Họ mẫu
mực, cụ vui vẻ, hiền hòa trung thực, dung hòa được mọi người trong Họ. Gia đình
kinh tế khá giả, con gái Đỗ Thị Kịt là người thừa kế. Cụ Viên thọ 70 tuổi.
Cụ Đỗ Văn Nhỏ (con nuôi cụ
Cầm) sinh được 3 trai, 1 gái.
Cụ Đỗ Văn Thiêm, cụ bà Ngô
Thị Nghĩ, sinh được 1 gái lấy chồng là Đỗ Tuy, con là Đỗ Đạo, thừa kế.
Cụ Đỗ Văn Phan, cụ bà Đỗ
Diệu Viết, Nguyễn Diệu Lân sinh được 2 trai, 1 gái. Sinh thời cụ Phan là một
học sinh nghèo, thông minh, hiếu học trở thành nhà giáo.
Cụ Đỗ Phúc Ban, cụ bà Ngô
Thị Thụ, Nguyễn Thị Sắc sinh được 1 trai, 1 gái. Cụ Bán an phận, nuôi con ăn
học.
Cụ Đỗ Phúc Chác, cụ bà
Nguyễn Thị Hóa sinh được 1 con trai. Tính tình cụ Chác nhu mì, cần cù.
Cụ Đỗ Văn Hân, cụ bà Hoàng
Thị Đãng vô sinh, có các con nuôi là Đỗ Thị Đang, Đỗ Thị Hoan.
Cụ Đỗ Phúc Phấn, cụ bà Ngô
Thị Ty sinh được 1 trai, 2 gái. Cụ phải sống lam lũ, vất vả, cần cù nuôi con
trưởng thành.
Cụ Đỗ Phúc Chưng, cụ bà
Nguyễn Thị Mít sinh được 5 con trai, 2 con bị mất sớm còn 3 người là Đỗ Văn Hà,
Đỗ Văn Phái và Đỗ Văn Chi. Cụ bà hai, Nguyễn Thị Huỳnh không có con. Cụ Chưng
gia thất khá giả có đủ điều kiện nuôi con ăn học đến khi trưởng thành. Gia đình
cụ bị ảnh hưởng trong thời kỳ Cải cách ruộng đất, bị quy là địa chủ.
Thế hệ thứ 9:
Ông Đỗ Văn Liết, bà Đỗ Thị Bát (thọ 67 tuổi) sinh
được 3 con gái là Đỗ Thị Thời, Đỗ Thị Tiết và Đỗ Thị Thảo, một người con nuôi
là Đỗ Văn Đăng, vợ là Hoàng Thị Mạnh. Ông Liết tính tình thẳng thắn, sòng
phẳng, cần cù, giản dị, hăng hái tham gia công tác xã hội. Địa vị xã hội qua
các thời kỳ: Phó chủ nhiệm HTX nông nghiệp, Trưởng ban kiểm soát HTX, Trưởng
ban chăn nuôi, Trưởng ban KHKT giống cây trồng, trung đội Trưởng dân quân xã.
Ông tham gia công tác liên tục từ năm 1959-1981. Được Nhà nước tặng thưởng Huân
chương KC hạng 3 và nhiều bằng khen của các cấp. Ông là người được dân làng tin
yêu mến phục; trong Họ, ông là trung tâm đoàn kết của Họ ta.
Ông Đỗ Văn Mai, bà Hoàng Thị
Ngà (thọ 84 tuổi), sinh được 1 trai, 1 gái là Đỗ Văn Khôi và Đỗ Thị Hồi. Ông
Mai đi lính sang Pháp từ năm 1939, về nước năm 1951 ở nhà làm ruộng. Năm
1952-1953, ông làm Xã ủy trong chính thể Quốc gia, được dân tin yêu mến phục.
Năm 1960, xây dựng HTX nông nghiệp, ông được bầu làm Chủ nhiệm HTX nông nghiệp
thôn Xuân Mai, Chủ nhiệm HTX tín dụng, Đội trưởng đội trồng cây của các cụ phụ
lão. Đối với gia tộc, ông là người có công lớn trong cuộc vận động ba chi trong
Họ về sum họp theo truyền thống tổ tiên sau mấy chục năm gián đoạn. Cuộc họp
ngày 01-12-1985, mở đầu thời kỳ khôi phục truyền thống Họ ta đã đi vào lịch sử
của gia tộc. Ông mất năm 1986, thọ 75 tuổi.
Ông Đỗ Văn Lập, bà Phạm Thị
Nguyên, sinh được 2 trai, 2 gái là Đỗ Văn Thạch, Đỗ Văn Sùng, Đỗ Thị Túc, Đỗ
Thị Đủ và có 1 con nuôi là Đỗ Thị Được. Ông Lập hiền lành, cần cù, hòa thuận
với anh em trong Họ. Ông Lập thọ 69 tuổi.
Ông Đỗ Văn Sáp, bà Nguyễn
Thị Xiêm, sinh được 4 trai, 3 gái: Đỗ Văn Phúc, Đỗ Văn Đương, Đỗ Văn Hùng, Đỗ
Văn Vỹ và Đỗ Thị Xiềm, Đỗ Thị Lộc, Đỗ Thị Lương. Ông Sáp vui vẻ, cần cù, giản dị.
Ngoài xã hội, ông làm đội phó đội sản xuất; trong Họ, ông là một thành viên
tốt, anh em yêu mến.
Ông Đỗ Văn Hà, bà Ngô Thị
Mịch, bà Ngô Thị Cớn, sinh được 6 trai, 3 gái: Đỗ Văn Nhâm, Đỗ Văn Giai, Đỗ Văn
Đồng, Đỗ Văn Đông, Đỗ Văn Đúc, Đỗ Văn Khê, Đỗ Thị Hưởng, Đỗ Thị Hịch, Đỗ Thị
Hựu. Ông đỗ Sơ học yếu lược thời thuộc Pháp, làm Phó lý năm 1936. Ông là thành
viên tích cực xây dụng Họ. Ông Hà thọ 73 tuổi.
Ông Đỗ Văn Phái (mất sớm),
sinh được 1 gái là Đỗ Thị Luân, bà là Đỗ Thị Di, thờ chồng nuôi con.
Ông Đỗ Văn Chi, bà Đỗ Thị
Ngoạn, sinh được 3 trai, 2 gái là Đỗ Văn Nghi, Đỗ Văn Tuyên, Đỗ Văn Diễn và Đỗ
Thị Vượng, Đỗ Thị Ngoan. Ông Chi thi đỗ Sơ học yếu lược, làm Thủ bạ năm
1939-1944. Năm 1960-1976 làm Đội trưởng đội sản xuất HTX nông nghiệp. Ông Chi
cần cù, giản dị, nuôi con ăn học, trưởng thành. Ông là thành viên mẫu mực, hòa
thuận, tích cực tham gia công việc chung, để lại tình cảm tốt đẹp cho các con
cháu trong Họ. Ông mất ngày 14-7-1996, thọ 73 tuổi.
Thế hệ thứ 10:
Đỗ Văn Đăng (con nuôi của ông Đỗ Văn Liết), vợ là
Hoàng Thị Mạnh, sinh được 1 trai, 2 gái là Đỗ Văn Khoa, Đỗ Thị Đoàn, Đỗ Thị
Hoa. Học hết lớp 7 phổ thông, anh Đăng đi làm NVQS, xuất ngũ về nhà lao động
cần cù, trụ cột vững chắc khi cha mẹ tuổi già sức yếu. Anh là người con hiếu
thảo, là thành viên tích cực trong công việc của Họ.
Đỗ Văn Khôi, cháu đích tôn
thế hệ thứ 10, vợ là Nguyễn Thị Lép, sinh được 3 trai, 3 gái là Đỗ Văn Phục, Đỗ
Thị Tùng, Đỗ Thị Trinh, Đỗ Văn Binh, Đỗ Thị Minh, Đỗ Văn Hoạt. Học hết văn hóa
phổ thông, sau khi học Trung cấp thủy lợi đã trực tiếp tham gia xây dựng các
công trình thủy lợi của xã và của huyện trong nhiều năm sau chuyển về làm địa
chính kiêm thủy lợi của xã. Gần 20 năm công tác liên tục, đã được Nhà nước
thưởng Huân chương KC hạng 3 và nhiều bằng khen của các cấp. Trong Họ, xứng
đáng với cương vị của mình, anh là người trông nom, lo lắng mọi việc, tham gia
giải quyết thành công nhiều vụ việc phức tạp của Họ. Anh Khôi là một điển hình
cần cù, nhẫn nại, nuôi con ăn học trưởng thành, tạo dựng cuộc sống hạnh phúc.
Đỗ Văn Thạch, vợ là Ngô Thị
Thanh sinh được Đỗ Thị Thảo, Đỗ Thị Hiền; vợ kế là Nguyễn Thị Hoa sinh được Đỗ
Thị Ngọc. Học hết phổ thông, anh Thạch lên đường nhập ngũ. Hoàn thành nhiệm vụ
trong quân đội, nghỉ hưu với quân hàm Đại úy trở về địa phương.
Đỗ Văn Sùng, vợ là Nguyễn
Thị Nam, sinh được 2 con là Đỗ Thị Lương và Đỗ Văn Thực. Anh Sùng hiền lành,
cần cù lao động, học hết văn hóa phổ thông.
Đỗ Văn Phúc, vợ là Ngô Thị
Thông, sinh được 2 trai, 2 gái là Đỗ Văn Thắng, Đỗ Văn Tiến, Đỗ Thị Thanh, Đỗ
Thị Bình. Anh Phúc học hết phổ thông, là quân nhân kỹ thuật, mang quân hàm Đại
úy, nay ở tại đơn vị ở Hà Nội.
Đỗ Văn Đương, vợ là Hoàng
Thị Long, sinh được 2 con là Đỗ Văn Tuấn và Đỗ Thị Thủy. Anh Đương học hết phổ
thông cơ sở, đã hoàn thành NVQS. Gia đình khá giả, cần cù lao động, tham gia
nhiều công việc của Họ.
Đỗ Văn Nhâm, vợ là Nguyễn
Thị Tải sinh được 6 người con là Đỗ Văn Liên, Đỗ Văn Diên, Đỗ Miên, Đỗ Lục, Đỗ
Thị Loan và Đỗ Thị Yên. Anh Nhâm học hết cấp 1 phổ thông, đi NVQS, xuất ngũ về
làm nông nghiệp, sống cần cù, giản dị, tích cực tham gia công việc của Họ.
Đỗ Văn Giai, vợ là Đỗ Thị
Hợi sinh được 2 trai, 2 gái là Đỗ Thị Lợi, Đỗ Thị Lộc, Đỗ Văn Giỏi, Đỗ Văn Dẻo.
Anh Giai học hết cấp 1 phổ thông, đi công nhân địa chất đã nghỉ hưu. Tính tình
cương trực, tích cực tham gia công việc của Họ.
Đỗ Văn Đồng, vợ là Nguyễn
Thị Lê, sinh được 3 trai, 1 gái là Đỗ Văn Đăng, Đỗ Văn Đào, Đỗ Văn Đoan và Đỗ
Thị Xiêm. Anh Đồng học xong phổ thông, làm ngành thủy sản, sau chuyển về quê
vợ.
Đỗ Văn Đông, vợ là Đỗ Thị
Liên, sinh được 1 trai, 1 gái là Đỗ Văn Dương và Đỗ Thị Thúy. Anh Đông học hết
phổ thông cấp 2, hoàn thành NVQS về nhà sản xuất nông nghiệp, cần cù lao động.
Đỗ Văn Đúc, vợ là Nguyễn Thị
Liễu, sinh được 2 gái là Đỗ Thị Phương và Đỗ Thị...? Anh Đúc học hết phổ thông
trung học, vào trường Cơ điện, đi Tiệp Khắc 7 năm về công tác ở Công ty Thủy
nông huyện Mê Linh, đi Hàn Quốc. Cần cù lao động, thông minh, hiếu học.
Đỗ Văn Khê, vợ là Nguyễn Thị
Thành, sinh được 2 trai, 3 gái là Đỗ Văn Quý, Đỗ Văn Quyền, Đỗ Thị Hoa, Đỗ Thị
Thanh và Đỗ Thị Hương. Anh Khê làm NVQS, chiến đấu giải phóng miền Nam, bị
thương tật được hưởng chế độ thương binh.
Đỗ Văn Nghi, vợ là Nguyễn
Thị Vân, sinh được 4 trai, 1 gái là Đỗ Văn Hán, Đỗ Văn Hòa, Đỗ Văn Hợp, Đỗ Văn
Hiệu và Đỗ Thị Hanh. Anh Nghi học hết cấp 2 phổ thông. Năm 1964 vào công tác
Trường Cơ điện, 1968 làm NVQS. Giải phóng miền Nam thắng lợi, anh lại về Trường
Cơ điện công tác đến năm 1984 thì nghỉ hưu. Năm 1989, dân bầu anh làm Đội
trưởng sản xuất nông nghiệp. Gần 30 năm cống hiến sức lực cho xã hội, anh được
Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương. Bản chất anh Nghi thật thà, cởi mở
với bà con trong Họ, ngoài làng. Anh Nghi cùng với ông Ngại, anh Khôi, được Họ
tín nhiệm bầu vào Ban thường trực ngay từ những ngày đầu phục hồi truyền thống
cha ông. Ngoài xã hội, anh Nghi là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đỗ Văn Tuyên, vợ là Hà Thị
Ong sinh được 2 gái là Đỗ Thị Loan và Đỗ Thị Thanh (mất sớm). Anh Tuyên học hết
phổ thông, vào Trường Nghiệp vụ Kế toán, ra trường về công tác tại Công ty XNK
Cao Bằng và định cư tại Cao Bằng. Tuy ở xa nhưng anh luôn quan tâm tới công
việc của Họ ở quê nhà, dành tình cảm sâu nặng với bà con nội tộc.
Đỗ Văn Diễn, vợ là Đỗ Thị
Thuận sinh được 1 trai, 1 gái là Đỗ Văn Thịnh và Đỗ Thị Thúy. Anh Diễn học hết
cấp 1 phổ thông, làm nông nghiệp, cần cù, hiền lành, tích cực tham gia mọi hoạt
động của Họ.
CHI HANH
Thế hệ 5
|
Thế hệ 6
|
Thế hệ 7
|
Thế hệ 8
|
Đỗ
Phúc Thọ
Nguyễn Diệu Thái
Nguyễn
Diệu Mỗ
|
Đỗ
Phúc Nghị
Hoàng
Diệu Thế
Nguyễn Diệu Thu
|
Đỗ
Văn Hy
Lê
Diệu Khang
Nguyễn
Diệu Trứ
|
Đỗ
Quang Thùy
Đỗ
Văn Ngữ
Đỗ
Thị Kham
Đỗ
Thị Quy
Đỗ
Thị Chuật
Đỗ
Thị Tẽo
Đỗ
Thị Trữ
|
Đỗ Văn Nhiêu
Ngô Thị Ý
|
Đỗ Thị Quản
Đỗ Thị Nghĩ
|
Đỗ Văn Phong
Lê Thị Nhu
|
Đỗ Văn Nghệ
Đỗ Văn Kiêm
Đỗ Văn Kỳ
Đỗ Như Phượng
Đỗ Văn Năm
Đỗ Xuân Mai
Đỗ Như Ngọc
|
Đỗ Văn Soạn
|
Đỗ Văn Chứ
|
|
Đỗ Văn Minh
|
Đỗ Văn Đạt
|
Đỗ Khắc Nhượng
Nguyễn Diệu Chính
|
Đỗ Văn Cung
|
Đỗ Văn Cạch
Đỗ Văn Chí
Đỗ Quang Trung
|
Đỗ Văn Kiệm
|
Đỗ Văn Cần
|
Đỗ Văn Nhân
|
|
Đỗ Văn Lương
|
|
Đỗ Văn Y
|
|
Đỗ Văn Giản
|
Đỗ Văn Khiêm
|
Đỗ Văn Chiêm
|
Đỗ Văn Tỉnh
|
Đỗ Văn Thường
Đỗ Thị Cài
|
CHI HANH
(chi cụ Đỗ Văn Hy thế hệ 7)
Thế hệ 8
|
Thế hệ 9
|
Thế hệ 10
|
Thế hệ 11
|
Đỗ
Quang Thùy
Nguyễn
Thị Bá
|
Đỗ Quang Nhạ
Hoàng Thị Tiềm
|
Đỗ
Thị Hợi
Nguyễn
Văn Đồng
|
|
Đỗ
Quang Minh
Nguyễn
Thị Hạ
|
Đỗ Thị
Hường
Đỗ
Quang Chính
Đỗ
Thị Quỳnh
|
Đỗ
Quang Dũng
Đặng
Thị Loan
|
Đỗ
Mạnh Cường
Đỗ
Thị Hồng Vân
Đỗ Thị Hồng Hạnh
|
Đỗ
Quang Thực
|
|
Đỗ Quang Hỗ
Nguyễn Thị Văn
|
Đỗ Quang Từ
Trần Thị Tuyết
|
Đỗ Minh Sơn
Đỗ Thị Minh Nguyệt
Đỗ Thu Thủy
|
Đỗ Thị Điển
Ngô Văn Hợi
|
|
Đỗ Thị Phú
Nguyễn Văn Dầu
|
|
Đỗ Thị Quý
Nguyễn Văn Tuyến
|
|
Đỗ Quang Huân
Nguyễn Thị Bình
|
Đỗ Minh Tuấn
Đỗ Thu Giang
|
Đỗ Quang Hoan
Đỗ Thị Nha
Đỗ Thị Bảo
(tức Bảo Ngọc)
|
Đỗ Thị Môn
Nguyễn Văn Tạo
|
|
Đỗ Quang Hân
Nguyễn
Tuyết Thảo
|
Đỗ Xuân Hảo
Đỗ Quỳnh Hoa
Đỗ Quang Huy
|
Đỗ Mạnh Hiếu
Nguyễn
Thị Thạch
|
Đỗ Quang Hiệp
Đỗ Mạnh Hải
|
Đỗ Nguyên Hồng
Nguyễn
T Tú Anh
|
Đỗ Quang Hà
Đỗ Đức Hạnh
|
Đỗ Mai Hưng
Phạm Thị Phương
|
Đỗ Minh Hiền
Đỗ Ngọc Hường
|
Đỗ Ngọc Hương
Nguyễn
Hoài Văn
|
|
Đỗ Lệ Hằng
Đào Đức Doãn
|
|
Đỗ Mạnh Hùng
|
|
Đỗ Trọng Hiển
|
|
Đỗ Quang Hài
Trần Thị Tâm
|
Đỗ Quang Tiến
Trần Thị Khoát
|
Đỗ Phú Cường
Đỗ Hồng Quân
Đỗ Thị Quỳnh
|
Đỗ Quang Tùng
Lê Thị Hường
|
Đỗ Xuân Lộc
|
Đỗ Thị Ngân
Trịnh
Xuân Mạnh
|
|
Đỗ Thị Nga
Nguyễn Trung Thành
|
|
Đỗ Quang Hải
|
|
CHI HANH
(chi cụ Đỗ Văn Hy thế hệ 7)
(tiếp)
Thế hệ 8
|
Thế hệ 9
|
Thế hệ 10
|
Thế hệ 11
|
Đỗ
Văn Ngữ
Nguyễn
Thị Lai
Lê
Thị Hành
|
Đỗ Thị Hoàn
Đỗ Cao Luận
Nguyễn Thị Yết
|
|
|
Đỗ
Thị Thận
Ngô
Văn Nhỉ
|
|
Đỗ
Hòa Bình
Nguyễn
Thị Thìn
|
Đỗ
Văn Long
Đỗ
Văn Việt
|
Đỗ
Thị Yên
Nguyễn
Văn Hùng
|
|
Đỗ
Cao Quyền
Nguyễn
Thị Đạo
|
Đỗ
Thắng
Đỗ
Lợi
Đỗ
Thị Thúy
|
Đỗ
Cao Thế
Nguyễn
Thị Hiên
|
Đỗ
Tiến
Đỗ
Chiến
|
Đỗ
Cao Toản
Đỗ
Thị Giỏi
|
Đỗ
Tùng
Đỗ
Thị An
Đỗ
Thị Hằng
|
Đỗ
Thị Toan
Đỗ
Văn Phê
|
|
Đỗ
Thị Bội
Đỗ Năng
Thức
Nguyễn
Thị Mỹ
|
|
|
Đỗ
Thị Mai
|
|
Đỗ
Việt Hồng
Nguyễn
Thị Hà
|
Đỗ
Việt Hưng
Đỗ
Tuấn Minh
|
Đỗ
Thị Liên
|
|
Đỗ
Thị Loan
Nguyễn
Văn Tuấn
|
|
Đỗ
Thị Giao
Đỗ
Năng Thoại
Đỗ
Thị Ngát
|
|
|
Đỗ
Kim Thành
Ngô
Thị Phận
|
Đỗ
Đức Thuận
Đỗ
Thị Hòa
|
Đỗ
Thị Hồng Khanh
Ngô
Xuân Bình
|
|
Đỗ
Minh Tuấn
Đỗ
Thị Thuận
|
Đỗ
Việt Tiệp
Đỗ
Thị Hiệp
|
Đỗ
Quốc Khánh
Nguyễn
Thị Lan
|
Đỗ
Văn Duy
|
Đỗ
Văn Khuyến
Hoàng
Thị Kiều
|
Đỗ
Quốc Ánh
|
Đỗ
Văn Khuyên
|
|
Đỗ
Thị Phương
|
|
|
CHI HANH
(chi cụ Đỗ Văn Phong thế hệ
7)
Thế hệ 8
|
Thế hệ 9
|
Thế hệ 10
|
Thế hệ 11
|
Đỗ
Văn Nghệ
Hoàng
Thị An
Hoàng
Thị Chiêm
|
Đỗ Văn Thụ
Đinh Thị Lư
|
Đỗ
Thị Mậu
Lại
Nam Long
|
|
Đỗ
Đức Căn
Nguyễn
Bích Lan
|
Đỗ Nguyễn Trâm Anh.
Đỗ
Chí Thiện
Đỗ
Nguyễn Anh Thư
|
Đỗ
Thị Liên
Nguyễn
Đức An
|
|
Đỗ
Thị Diệp
Phạm
Văn Dật
|
|
Đỗ
Thị Bích
Hồ
Đắc Dung
|
|
Đỗ
Văn Lâm
Trầnh
Trinh Tuyết
|
Đỗ
Ngọc Thùy Linh
|
Đỗ
Thị Chắt
Hoàng
Văn Tiếp
|
|
|
Đỗ
Đình Kế
|
|
|
Đỗ
Kim Chi
Phạm
Quang Phong
|
|
|
Đỗ
Văn Kiêm
Ngô
Thị Thịnh
|
Đỗ
Thị Lộc
Nguyễn
Hữu Lược
|
|
|
Đỗ
Tất Lợi
Lê
Thị Bẩy
|
Đỗ Tất
Hùng
Nghiêm Thu Trang
|
Đỗ
Lan Hạnh
Đỗ
Ngọc Hải
|
Đỗ
Quý Hương
Nguyễn
Duy Dinh
|
|
Đỗ
Tất Tạo
Đào
Thị Phụng
|
Đỗ
Tất Thành
Đỗ
Thùy Phương
|
Đỗ
Tất Thắng
Tạ
Thị Thuần
|
Đỗ
Thu Nga
Đỗ
Thu Thủy
Đỗ
Tất Hưng
|
Đỗ
Hữu Đức
Nguyễn
Thị Lan Anh
|
Đỗ
Ngọc Ánh
Đỗ
Trọng Nhân
|
Đỗ
Thanh Bình
Lê
Hiển
|
|
Đỗ
Hữu Bảo
|
|
|
Đỗ
Thị Diệu
Lê
Đức Phúc
|
|
|
Đỗ
Thị Doanh
Trần
Vân Phi
|
|
|
Đỗ
Văn Kỳ
Trần
Thị Đờn
Ngô
Thị Kỹ
Trần
Thị Thược
|
Đỗ
Văn Rỵ
Lại
Thị Tố Nga
|
Đỗ
Minh Trang
Trần
Mạnh Hùng
|
|
Đỗ
Thị Đoan Trang
Bùi
Nguyên Tường
|
|
Đỗ
Tấn
Hinh Thị Nguyệt Vân
|
|
Đỗ
Thị Thu Trang
Trần
Minh Đức
|
|
Đỗ
Thị Kiều Trang
Nguyễn
Duy Vũ
|
|
Đỗ
Thị Dậu
Vũ
Văn Khoa
|
|
|
Đỗ
Thị Sửu
Đỗ
Tiến
|
|
|
Đỗ
Văn Trừ
Nguyễn
Thị Quỳnh
|
|
|
Đỗ
Thị Dần
|
|
|
Đỗ
Thị Thảo
|
|
|
Đỗ
Như Phượng
Ngô
Thị Tôn
Ngô
Thị Oanh
|
Đỗ
Như Lân
Phạm
Thị Lê Thảo
Nguyễn
Thanh An
|
Đỗ
Thị Thu Thủy
Phạm
Đức Hiền
|
|
Đỗ
Thăng Long
Đỗ
Lidia Kujda
|
Đỗ Tuấn Linh Léonard
|
Đỗ
Văn Năm
Nguyễn
Thị Lan
|
Đỗ
Kính Tùng
Nguyễn
Thị Lệnh
|
Đỗ
Minh Sơn
Lại
Thị Kim Thoa
|
Đỗ Thùy Linh
Đỗ Huy Hoàng
|
Đỗ Thu
Hương
Đỗ
Xuân Quang
|
|
Đỗ
Như Bách
Trần
Thị Thịnh
|
Đỗ
Hải Yến
Nguyễn
Văn Khoa
|
|
Đỗ
Hải Châu
|
|
Đỗ
Thanh Lịch
Vũ
Thị Trang
|
Đỗ Vũ
Anh Thư
Lê
Kim Anh
|
|
Đỗ Vũ
Hùng
Trần
Cẩm Hòa
|
|
Đỗ Vũ
Anh Thi
Trần
Bá Bạch
|
|
Đỗ
Xuân Mai
Nguyễn
Thị Quy Nguyễn Thị Bông
Nguyễn
Bích Vân
|
Nguyễn
Thanh Nguyên
|
|
|
Đỗ
Thành Khôi
|
|
|
Đỗ Tú
Anh
|
|
|
Đỗ
Như Ngọc
Trần
Thị Trọng
Lê
Thị Nội
|
Đỗ
Phúc Yên
Nguyễn
Kim Cúc
|
Đỗ
Ngọc Diệp
|
|
Đỗ
Thái Bình
Tô
Minh Nguyệt
|
Đỗ
Bình Dương
Đỗ
Nguyệt Hà
|
|
Đỗ
Thị Bắc Ninh
Dương
Tiến Thọ
|
|
|
Đỗ
Thái Nguyên
Nguyễn
Thị Thu
|
Đỗ
Huy
Đỗ
Dũng
Michael
Đỗ
|
|
Đỗ
Thị Bắc Giang
Lê
Kim Đĩnh
|
|
|
Đỗ
Lạng Sơn
Phạm
Thị Hiển
|
Đỗ
Phạm Hoàng
Đỗ
Thu Hương
|
|
Đỗ
Tuyên Quang
Nguyễn
Thị Phụng
|
|
|
Đỗ
Thị Hà Đông
|
|
|
Đỗ
Hải Dương
Lương
Thanh Bình
|
Đỗ
Bình Minh
Đỗ
Thúy Nga
|
|
Đỗ Phú
Thọ
Nguyễn
Thị Hậu
|
Đỗ
Khánh Linh
Davis
Đỗ
|
|
Đỗ
Hồng Hà
Nguyễn Khắc Hường
|
|
|
Đỗ
Hiền Lương
Nguyễn
Văn Tâm
|
|
|
CHI HANH
(chi
cụ Đỗ Văn Minh thế hệ 7)
Thế hệ 8
|
Thế hệ 9
|
Thế hệ 10
|
Thế hệ 11
|
Đỗ
Văn Đạt
Ngô
Thị Du
|
Đỗ Văn Tôn
Ngô Thị Mưu
|
Đỗ
Thị Kính
Nguyễn
Văn Áp
|
|
Đỗ
Thị Thân
Đỗ
Văn Đinh
|
|
Đỗ
Văn Tâm
|
|
Đỗ
Thị Tính
Hoàng
Văn Diên
|
|
Đỗ
Thị Toán
Nguyễn
Văn Khôi
|
|
Đỗ
Văn Chiến
Đỗ
Thị Dệt
|
Đỗ
Văn Trường
Đỗ
Thị Giang
Đỗ
Thị Hằng
|
Đỗ
Văn Tân
Đỗ
Thị Kết
|
Đỗ
Thị Đoàn
Đỗ
Văn Viên
|
Đỗ Thị Phượng
Ngô Văn Tuyên
|
|
|
Đỗ Thị Nhạn
Đỗ Văn Như
|
|
|
Đỗ Văn Tạo
Ngô Thị Tùi
|
Đỗ Văn Lịch
Ngô Thị Hùng
|
Đỗ Văn Hải
Đỗ Lương
Đỗ Văn Long
Đỗ Văn Đức
|
Đỗ Văn Vạn
Đỗ Thị Vụ
|
Đỗ Văn Quân
Đỗ Thị Nguyên
Đỗ Thị Nguyệt
Đỗ Văn Quyền
|
Đỗ Văn Liên
Nguyễn Thị Hải
|
Đỗ Văn Tuấn
Đỗ Văn Dũng
Đỗ Văn Sỹ
Đỗ Thị Hương
|
Đỗ Văn Thành
Nguyễn
Thị Quyến
|
Đỗ Văn Trung
Đỗ Văn Hoan
|
Đỗ
Văn Hanh
Nguyễn
Thị Huyền
|
Đỗ Văn Huy
Đỗ Thị Trang
|
Đỗ Thị Bẩy
|
|
Đỗ Thị Chín
|
|
CHI HANH
(chi
cụ Đỗ Văn Cung thế hệ 7)
Thế hệ 8
|
Thế hệ 9
|
Thế hệ 10
|
Thế hệ 11
|
Đỗ
Văn Cạch
Bùi
Thị Mỹ Tình
|
Đỗ
Văn Kim
|
|
|
Đỗ
Văn Cương
|
|
|
Đỗ
Văn Ngân
|
|
|
Đỗ
Văn Chí
Nguyễn
Diệu Thoái
|
Đỗ
Văn Tín
Hoàng
Thị Nội
|
Đỗ
Thị Bé
Đỗ
Thị Hương
Ngô
Văn Hiệu
|
|
Đỗ
Văn Ái (tức Đỗ Văn Hồng)
|
|
|
Đỗ
Thị Mộ
Nguyễn
Văn Hách
|
|
|
Đỗ
Ngọc Ngại
Đặng
Thị Tiêm
|
Đỗ
Minh Hiếu
Đinh
Thị Mỵ
|
Đỗ
Minh Hiến
Đỗ
Thị Hà
|
Đỗ
Minh Thảo
Trương
Thị Trâm
|
Đỗ
Thị Phương
Đỗ
Minh Thanh
|
Đỗ
Thị Nguyên
Ngô
Văn Khanh
|
|
Đỗ
Thị Hằng
Nguyễn
Văn Hồng
|
|
Đỗ
Minh Hiền
|
|
Đỗ
Văn Sỹ
|
|
Đỗ
Duy Hùng
Trịnh
Thị Lan
|
Đỗ
Thị Thúy
|
|
Đỗ
Văn Huy
Nguyễn
Thị Đích
|
Đỗ
Thị Linh
|
Đỗ
Thị Huyền
Nguyễn
Văn Thảo
|
|
Đỗ
Thị Hòa
Nguyễn
Văn Vân
|
|
Đỗ
Văn Thuận
|
|
Đỗ
Quang Trung
Hoàng
Thị Nhỡ
|
Đỗ
Thị Hải
Nguyễn
Văn Trường
|
|
|
Đỗ
Như Sơn
Nguyễn
Thị Chiêm
Đỗ
Thị Điển
|
Đỗ
Thị Dung
Đỗ
Thị Hoa
Đỗ
Văn Anh
Đỗ
Văn Hào
Đỗ Kim Liên
Đỗ
Văn Đắc
Đỗ
Thị Đức
|
|
Đỗ
Như Lâm
Ngô
Thị Thu
|
Đỗ
Văn Thắng
Đỗ
Thị Hiền
Đỗ
Thị Hòa
|
|
Đỗ
Thị Lý
Tạ
Ngọc Bảo
|
|
|
CHI HANH
(chi cụ Đỗ
Văn Kiệm thế hệ 7)
Thế hệ 8
|
Thế hệ 9
|
Thế hệ 10
|
Thế hệ 11
|
Đỗ Văn Cần
Phan Thúy Khảm
|
Đỗ Thị Dụt
Đỗ Văn Phát
|
|
|
Đỗ Thị Cừ
Nguyễn Văn San
|
|
|
Đỗ Thị Vòng
Nguyễn
Văn Tăng
|
|
|
CHI HANH
(chi cụ Đỗ
Văn Khiêm thế hệ 7)
Thế hệ 8
|
Thế hệ 9
|
Thế hệ 10
|
Thế hệ 11
|
Đỗ Văn Chiêm
|
Đỗ Vă Mùa
|
|
|
Thế hệ thứ 7:
Đỗ Văn Hy, gia tư kinh tế khá giả, học rộng tài
cao, lương thiện, nuôi con ăn học thành đạt cao.
Đỗ Văn Nhiêu, tính tình hiền
hòa, học rộng, làm chánh tổng, cụ sinh được 2 gái, không có con trai.
Đỗ Văn Phong, có trình độ
học vấn Hán-Nôm cao, dạy học, bốc thuốc, tham gia phong trào Đông kinh Nghĩa
thục, năm 1911 bị đày sang đảo Guyan (Nam Mỹ), đóng bè vượt ngục về Trung Quốc
rồi 1925 về Nam Bộ, tiếp tục hoạt động ở vùng Long Xuyên, sau được phân công về
tỉnh Bạc Liêu để hoạt động nâng cao dân trí, tuyên truyền chống Pháp. Ngày 26 tháng
10 năm Canh Ngọ (15-12-1930) cụ mất, thọ 70 tuổi. Thời gian cụ vắng nhà, cụ bà
Lê Nhị Nhu đã chèo chống, nuôi dạy 7 người con trai thành đạt, nổi tiếng một
vùng.
Đỗ Văn Chứ, Đỗ Văn Minh làm
phú ông, an phận thủ thường nuôi con ăn học.
Đỗ Văn Cung, có trình độ học
vấn cao, mở trường dạy học, nhiều người ở xa như Phù Trì, Chi Đông, Bảo Tháp...
và con em nhân dân trong vùng đến học. Dân làng nhiều người đến hỏi cụ phép
“đối nhân xử thế”, cụ đều chỉ bảo tận tình. Cụ sinh được 5 trai, 1 gái. Gia
đình khá giả, nuôi con ăn học trưởng thành. Cụ thọ trên 70 tuổi.
Đỗ Văn Kiệm sinh được 1
trai, 3 gái, dạy học chữ Nho. Tính tình vui vẻ, hòa nhã, cởi mở. Thọ 70 tuổi.
Đỗ Văn Khiêm, sinh được 1
con trai.
Đỗ Văn Tỉnh sinh được 1 con
trai. Hai cụ an phận thủ thường, làm ruộng nuổi con ăn học.
Thế hệ thứ 8:
Đỗ Quang Thùy là trưởng họ
CHI HANH còn gọi là Đỗ Tứ Chi, cụ bà Nguyễn Thị Bá, sinh được 4 người con trai.
Gia đình khá giả, các con của cụ đều được ăn học, đỗ đạt cao. Cụ Thùy là một
trưởng họ mẫu mực, dung hòa được các thành viên trong họ, thẳng thắn nhưng nhẹ
nhàng thoải mái. Với kẻ ăn, người ở, cụ rất bao dung, độ lượng. Địa vị xã hội:
cụ làm Thủ bạ nhiều năm. Hai cụ lao động cần cù, tiết kiệm. năm 1955, trong Cải
cách ruộng đất, gia đình bị quy là địa chủ, bị tịch thu toàn bộ nhà cửa ruộng
vườn và gia đình bị đuổi đi nơi khác. Đến năm 1957, sửa sai, gia đình được trả
lại 70% tài sản. Tuy nhiên các con của cụ vẫn bị ảnh hưởng chính trị trên đường
tiến thân.
Đỗ Văn Ngữ, cụ bà là Nguyễn
Thị Lai sinh được 4 trai, 3 gái, cụ bà hai là Lê Thị Hành sinh được 1 gái. Cụ
Ngữ tính tình thẳng thắn, nghiêm khắc nhưng độ lượng, khoan dung. Gia tư khá
giả, gia thất đàng hoàng, nuôi con ăn học đỗ đạt cao, cụ tham gia tích cực công
việc của Họ. Cụ ông thọ 70 tuổi, hai cụ bà thọ trên 80 tuổi. Lúc sinh thời, cụ
làm Lý trưởng, điều hành công việc hành chính, pháp lý ở địa phương.
Đỗ Văn Nghệ (1883-1920), cụ
bà là Hoàng Thị An và Hoàng Thị Chiêm sinh được 2 trai, 3 gái. Cụ Nghệ mất sớm
(5/3) lúc 37 tuổi. An táng Lương Phúc, Sóc Sơn, Hà Nội.
Đỗ Văn Kiêm (1887-1958), cụ
bà là Ngô Thị Thịnh, sinh được 2 trai, 3 gái. Sinh thời làm sở Địa chính Phúc
Yên, lập ấp Mai Lĩnh ở Lập Trí, Minh Trí với một mô hình tiến bộ, nhận trẻ mồ
côi ở Dục Anh về nuôi đến khi trưởng thành lại xây dựng gia đình cho mọi người.
Cụ Kiêm giao thiệp rộng, bộc trực dễ gây oán với người mới biết. Cụ là người
cầm trịch cho việc giữ gia phong của nhà Mai Lĩnh. Năm 1954, cụ di cư vào Nam
và mất ngày 28/01 ở trong đó, thọ 71 tuổi. An táng Phù Xá - Sóc Sơn - Hà Nội.
Đỗ Văn Kỳ (1891-1947), cụ bà
là Trần Thị Đờn, Ngô Thị Kỹ, Trần Thị Thược sinh được 1 trai, 3 gái. Cụ Kỳ là
người can đảm, tự tin, phiêu lưu, bộc trực, người sáng lập, tổ chức cơ sở Mai
Lĩnh ở khắp nơi Hải Phòng, Hà Nội, Sài Gòn. Công việc đang tiến triển thuận
lợi, năm 1946 cụ về Bắc, toàn quốc kháng chiến, bị kẹt lại ở Hà Nội và mất ngày
28/7/1947, thọ 56 tuổi. An táng Xuân Mai - Vĩnh Phúc.
Đỗ Như Phượng (1894-1955),
cụ bà là Ngô Thị Tôn, Ngô Thị Oanh, sinh được 1 con trai. Cụ Phượng là một
người con, người cha, người ông hiền hậu của gia đình Mai Lĩnh, là một thành
viên mẫu mực trong Họ, là người hàng xóm láng giềng tốt bụng của dân làng. Là
đại diện gia đình Mai Lĩnh ở Xuân Mai, Phúc Yên, trong CCRĐ (1955), cụ Phượng
bị quy là địa chủ, gánh chịu tất cả những điều mà con cháu đã làm đối với chính
sách CCRĐ cho là có tội, kết án 15 năm tù, tịch thu toàn bộ tài sản của cả nhà
Mai Lĩnh, kể từ đó nhà Mai Lĩnh gần như bị xóa sổ ở làng Xuân Mai. Mất ngày 4/9
âm lịch sau một thời gian ở trại cải tạo, thọ 61 tuổi. An táng Xuân Mai - Vĩnh
Phúc.
Đỗ Văn Năm (1900-1947), cụ
bà là Nguyễn Thị Lan, sinh được 3 người con trai. Cụ là người chịu đựng, nhường
nhịn, không tranh giành với ai. Lao động cần cù, xây dựng cơ nghiệp lớn, giám
đốc Mai Lĩnh Hải Phòng, công việc đang tiến triển thuận lợi thì chiến tranh làm
tiêu tan hết. Cụ mất ngày 30/4 năm Đinh Hợi (1947), thọ 47 tuổi. An táng Xuâm
Mai - Vĩnh Phúc.
Đỗ Xuân Mai (1904-1978), cụ
bà là Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Thị Bông, Nguyễn Bích Vân sinh được 1 trai, 2 gái. Thông minh, nhạy
bén, hào phóng quá độ như cụ tự nhận xét. Có thời gian cụ làm tiên chỉ ở quê,
đã cho xây dựng đường làng, trường học, giếng nước, cổng làng cho dân... Con
cháu thấy ở cụ có nhiều tài: cụ không hề học trường Quốc gia Âm nhạc, thậm chí
một lớp nhạc bình thường vậy mà cụ đã nhiều năm giữ chức Trưởng ban Cổ nhạc Bắc
Phần của Đài phát thanh Sài Gòn trước giải phóng, đây cũng là điểm son trong
đời cụ ngoài chức vụ Giám đốc Nhà Xuất bản Mai Lĩnh Hà Nội, như cụ thường kể.
Cụ mất ngày 17 tháng 5, thọ 75 tuổi, di hài đặt tại Xá Lợi Phật Đài Thủ Đức -
Tp.Hồ Chí Minh.
Đỗ Như Ngọc (1909-1984), cụ
bà là Trần Thị Trọng, Lê Thị Nội sinh được 7 trai, 5 gái. Cụ Ngọc nhu mì, chân
thật, cần cù, chịu đựng, không tranh giành với ai. Trước năm 1946, đồng Giám
đốc Mai Lĩnh Hải Phòng. Công việc tiến triển thuận lợi. Chiến tranh tàn phá,
trở lại Hải Phòng với hai bàn tay trắng cuối năm 1954, rồi lại chiến tranh...
Các cụ đã nuôi dạy các con thành tài trong hoàn cảnh cực kỳ khắc nghiệt. Cuối
đời, cụ Ngọc vào Nam sống với các con. Cụ mất ngày 30 tháng 10, thọ 75 tuổi, di
hài đặt tại chùa Vĩnh Nghiêm - Tp.Hồ Chí Minh.
Đỗ Văn Đạt, cụ bà là Ngô Thị
Du, sinh được 2 trai, 1 gái. Gia đình cụ Đạt làm ăn khá giả, các con cụ được ăn
học đầy đủ, tính cụ vui vẻ đoàn kết, thân mật giúp đỡ đùm bọc anh em trong họ.
Đỗ Văn Cạch, cụ bà là Bùi
Thị Mỹ Tình, sinh được 3 người con trai, 2 người đi xa, 1 người mất sớm. Cụ
Cạch là người chân thật, cần cù, vất vả. Thọ 70 tuổi.
Đỗ Văn Chí, cụ bà là Nguyễn
Thị Thoái, sinh được 4 trai, 2 gái. Cụ Chí đi lính sang Pháp năm 1914-1918. Năm
1945, cách mạng thành công, cụ làm đội trưởng tự vệ thôn Xuân Mai. Năm
1950-1953 cụ làm Tiên Chỉ trong chính quyền Quốc gia. Năm 1955, CCRĐ, cụ bị quy
là địa chủ cường hào, phó bí thư huyển ủy Quốc Dân Đảng, tù 7 năm. Đến khi sửa
sai, giải oan cho cụ thì cụ đã qua đời, thọ 64 tuổi. Cụ Chí là tấm gương sáng
về giúp đỡ bà con xóm làng lúc hoạn nạn. Nhờ biết ngoại ngữ, cụ đã cứu được
nhiều người trong làng cũng như trong vùng như Chi Đông, Bảo Tháp, Ngọc Trì...
thoát khỏi tay giặc. Tính cụ nóng nảy, thẳng thắn mà nhân đạo, cụ không phù
thịnh mà cũng chẳng phù suy, uy vũ không khuất phục.
Đỗ Quang Trung, cụ bà là
Hoàng Thị Nhỡ, sinh được 2 trai, 2 gái. Cụ Trung đem vợ con đi Hải Phòng mở cửa
hiệu bán sách báo. Năm 1946 về nhà làm nông nghiệp, nuôi con ăn học trưởng
thành.
Đỗ Văn Chiêm, cụ bà là..?
Sinh được 1 con trai là Đỗ Văn Mùa, nay con cháu ở làng Thanh Trí, xã Minh Phú,
Sóc Sơn.
Đỗ Văn Uy, cụ bà là...? Sinh
được 1 người con trai. Gia đình cụ khá giả an phận thủ thường.
Thế hệ thứ 9:
Đỗ Quang Nhạ, bà là Hoàng Thị Tiềm, trưởng Họ tứ
chi thế hệ thứ 9, sinh được 3 trai, 1 gái. Ông Nhạ hiền từ, nhu mì, thật thà,
hòa thuận. Ông có học vị Dược sĩ cao cấp, trong kháng chiến phục vụ trong ngành
Quân dược từ 1947. Ông đã từng làm việc ở Thái Nguyên, Bắc Cạn, Hà Nội, Yên Bái,
Vĩnh Yên, Phúc Yên với cương vị Trưởng phòng Dược chính. Năm 1975, ông nghỉ
hưu. Hơn 40 năm công tác, ông được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương, huy
chương. Ông là một trưởng họ mẫu mực, một tấm gương sáng cho con cháu noi theo.
Ông Nhạ mất ngày 29/10 thọ 77 tuổi.
Đỗ Quang Hỗ, bà là Nguyễn
Thị Văn, sinh được 2 trai, 3 gái. Ông Hỗ hiền lành, ít nói. Học hết phổ thông,
ông làm nhà máy in 2 năm rồi về làm nông nghiệp, năm 1941-1945 ông làm trưởng
bạ. Ông đầu tư sức lực nuôi con ăn học thành đạt: 3 cử nhân, 1 kỹ sư. Ông mất
ngày 2/6 thọ 67 tuổi.
Đỗ Quang Hoan, bà là Đỗ Thị
Nha, Đỗ Thị Bảo, sinh được 6 trai, 3 gái. Ông Hoan rất thông minh, tháo vát,
giao thiệp rộng, hiểu biết nhiều. Năm 1946 ông tham gia Ban thông tin tuyên
truyền của xã. Năm 1950-1954 dạy học phổ thông. 1956 tốt nghiệp Giáo viên dạy
nghề ở Hà Nội. 1957 làm Chủ nhiệm HTX may mặc ở quận Hoàn Kiếm. 1980 nghỉ hưu,
mở trường dạy nghề, miễn giảm học phí cho con em các gia đình thương binh, liệt
sĩ, trẻ mồ côi. Hàng nghìn học sinh do ông đào tạo đã thành đạt. Ông tham gia
Ban chấp hành Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam. Năm 1996 được tặng thưởng Huy chương Vì sự nghiệp chữ thập Đỏ Việt Nam. Ông
Hoan tuy ở xa quê hương, nhưng lại là một trong những thành viên có nhiều nhiệt
tình, gắn bó với Họ. Các con của ông Hoan đều thành đạt; có thể nói, ông có
hạnh phúc nhiều hơn anh em trong Họ.
Đỗ Quang Hài, bà là Nguyễn
Thị Tâm, sinh được 3 trai, 2 gái. Ông Hài nhu mì, mềm dẻo, giản dị nhưng cương
quyết. Tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm năm 1959, ông được bổ nhiệm về dạy ở các
trường phổ thông huyện Yên Lạc, huyền Bình Xuyên. Năm 1989 nghỉ hưu ở Hương
Canh. Ông đã được tặng thưởng Huân chương và Huy chương Vì Sự nghiệp Giáo dục. Tuy sống xa Họ, nhưng công việc của Họ, ông
tham gia tích cực. Gia đình ông sống thật hạnh phúc.
Đỗ Cao Luận, bà là Nguyễn
Thị Yết, sinh được 4 trai, 3 gái. Ông Luận người bộc trực, sống tình nghĩa.
Tham gia du kích trong kháng chiến chống Pháp. Năm 1955, trong CCRĐ, ông bị
hưởng liên lụy đến bản thân do sự yêu ghét, cá nhân. Con đường duy nhất ông
chọn là nuôi con ăn học, trưởng thành. Ngày nay các con ông đã trở thành kỹ sư,
giám đốc... rất tiếc ông đã sớm vĩnh biệt cõi đời này, không được hưởng những
thành quả mà ông đã dày công chăm bón. Ông mất ngày... tháng.... thọ... tuổi.
Đỗ Năng Thức, bà là Nguyễn
Thị Mỹ, sinh được 1 trai, 3 gái. Ông dạy học cấp 1 phổ thông, được nhiều bằng
khen, giấy khen của tỉnh, huyện. Cuộc đời ông cũng có nhiều thăng trầm vì sự
ghen ăn, tức ở. Ông đã nuôi con ăn học thành đạt cao. Ông bà đã nghỉ hưu ở Vũng
Tàu cùng con cháu.
Đỗ Văn Huấn bị giặc Pháp
bắt, giam giữ ở Phúc Yên, chết năm 15 tuổi.
Đỗ Năng Thoại, bà là Đỗ Thị
Ngát, sinh được 5 trai, 1 gái. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình có
truyền thống ham học. Ông đỗ Tú tài và tốt nghiệp Sư phạm cấp 1. Ba mươi hai
năm liên tục đứng trên bục giảng để truyền thụ kiến thức cho các thế hệ của đất
nước, sản phẩm thành quả của ông thật là vô giá. Nay ông đã nghỉ hưu. Trong Họ,
ông là thành viên tích cực, Ủy viên Ban thường trực của Họ, ông có công lớn
trong việc trùng tu nhà thờ Họ tứ chi năm 1998. Ngoài xã hội, ông trong Ban
chấp hành Hội Người cao tuổi thôn Xuân Mai. Ông được tặng Huân chương Kháng
chiến hạng 3, huy hiệu Vì sự nghiệp Giáo dục. Các con của ông đều thành đạt,
ông bà sống rất hạnh phúc.
Đỗ Văn Thụ, bà là Đinh Thị
Lư, sinh được 2 trai, 3 gái. Cháu đích tôn của chi nhà Mai Lĩnh. Tháo vát, sôi
nổi, có trình độ quản lý kinh doanh, trước 1946, trợ thủ đắc lực của Mai Lĩnh
Hà Nội. Năm 1954, vì gia đình bị đấu tố ở quê, bỏ lại cửa hàng kinh doanh lớn ở
Phúc Yên, một cuộc ra đi xé lòng, di cư vào Sài Gòn sống bình thường. Con cái
thành đạt. Ông Thụ mất ngày 23 tháng 8 năm Ất Mão (1975) thọ 62 tuổi. Di hài
đặt tại Xá Lợi Phật Đài - Thủ Đức - Tp.Hồ Chí Minh.
Đỗ Đình Kế, thông minh, học
giỏi, được thưởng đi nghỉ mát ở Sầm Sơn bị chết đuối ngày 5/7 lúc 21 tuổi. An
táng tại Xuân Mai, Phúc Thắng.
Đỗ Tất Lợi, bà là Lê Thị
Bẩy, sinh được 4 trai, 2 gái. Hiếu học, say mê nghiên cứu khoa học. Tham gia
kháng chiến chống Pháp từ những ngày đầu. Hòa bình lập lại (1954), ông về dạy ở
Trường Đại học Dược Hà Nội cho đến khi nghỉ hưu. Năm 1968 được Liên Xô phong
học vị Tiến sĩ Dược học. Năm 1980, Nhà nước phong ông học hàm Giáo sư. Năm
1996, ông được Nhà nước trao Giải thưởng
Hồ Chí Minh cho những công trình khoa học xuất sắc. Thành quả lao động và
cả vinh quang của đời ông thể hiện trong cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt
Nam”. Con cái thành đạt. Hiện nay nghỉ hưu tại Tp.Hồ Chí Minh.
Đỗ Hữu Bảo, một thanh niên
giàu lòng yêu nước, tham gia chống Pháp từ những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến.
Hy sinh lúc 26 tuổi trên đường công tác ở Long Xuyên (1946).
Đỗ Văn Ry, bà là Lại Thị Tố
Nga, sinh được 1 trai, 4 gái. Cuộc đời gặp nhiều không may, khó khăn, gian khổ.
Quân nhân gương mẫu, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp cho con cháu sống gần ông trong
thời chiến. Con cái thành đạt. Hiện nay cùng vợ con định cư ở Mỹ.
Đỗ Như Lân, bà là Phạm Thị
Lê Thảo và bà kết là Nguyễn Thị Thanh An, sinh được 1 trai, 1 gái. Cuộc đời có
nhiều nỗi bất hạnh. Dạy học 40 năm liên tục ở Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội,
Đại học Bách Khoa Tp.Hồ Chí Minh, Sidi-Bel-Abbes (Algérie). Năm 1991 được Nhà
nước phong hàm Phó giáo sư. Năm 1996, Chủ tịch Nước tặng danh hiệu Nhà Giáo Ưu tú. Con cái thành đạt. Tích
cực tham gia các công việc của Họ với tư cách cá nhân cũng như đại diện cho chi
nhà Mai Lĩnh ở quê nhà.
Đỗ Kính Tùng, bà là Nguyễn
Thị Lệnh, sinh được 1 trai, 1 gái. Hoạt bát, nỗ lực phấn đấu vượt qua gian khó
trong cuộc sống, chuyên viên dược sĩ Đỗ Kính Tùng đã có nhiều đóng góp có giá
trị trong ngành Y tế: phụ trách công tác quản lý kinh doanh dược phẩm của cả
nước, tham gia giảng dạy cho cán bộ bổ túc Đại học và sau Đại học tại Trường
Cán bộ Quản lý Y tế Hà Nội. Sau 40 năm công tác trong ngành Y tế, ông đã nghỉ
hưu, được tặng thưởng nhiều huân, huy chương các loại. Các con đều thành đạt.
Ông, bà nghỉ hưu tại Hà Nội.
Đỗ Như Bách, bà là Trần Thị
Thịnh, sinh được 2 con gái. Nhờ suy nghĩ tìm tòi và óc sáng tạo, dược sĩ Đỗ Như
Bách có nhiều sáng kiến trong việc cải tiến các thiết bị cơ khí trong sản xuất
thuốc, góp phần xây dựng xí nghiệp nơi mình công tác thành một trong những xí
nghiệp mạnh của ngành công nghiệp Dược Việt Nam. Các con đều thành đạt. Ông đã
được tặng thưởng nhiều huân, huy chương và bằng khen của nhà nước. Ông và bà đã
nghỉ hưu tại Tp.Hồ Chí Minh.
Đỗ Thanh Lịch, bà là Vũ Thị
Trang, sinh được 1 trai, 2 gái. Thông minh, táo bạo, thành công nhiều nhưng
cũng không ít vấp váp. Các con đều thành đạt. Hiện nay gia đình định cư tại Mỹ.
Đỗ Thành Khôi, rất thông
minh, có cá tính. Từ tháng 4/1975 mất liên lạc!
Đỗ Phúc Yên, bà là Nguyễn
Kim Cúc, có 1 con gái. Thông minh, học giỏi, khéo tay, lập gia đình muộn. Là kỹ
sư cơ khí nhiều tài năng, giàu sáng tạo của xí nghiệp mình công tác. Ông đã
được tặng thưởng nhiều huân, huy chương và bằng khen của nhà nước. Hiện nay ông
bà công tác tại Tp.Hồ Chí Minh.
Đỗ Thái Bình, bà là Tô Minh
Nguyệt, sinh được 1 trai, 1 gái. Rất thông minh, giỏi kỹ thuật, giỏi kinh
doanh, nhiều cống hiến cho ngành biển, ngành cứu hộ ở Việt Nam. Các con đều học
giỏi. Hiện nay ông bà công tác tại Tp.Hồ Chí Minh.
Đỗ Thái Nguyên, bà là Nguyễn
Thị Thu, sinh được 3 trai. Thông minh, học giỏi, tốt nghiệp kỹ sư cơ khí. Hiện
nay gia đình định cư tại Mỹ.
Đỗ Lạng Sơn, bà là Lê Thị
Hiển, sinh được 1 trai, 1 gái. Thông minh, tháo vát, kỹ sư Sơn đã tạo dựng được
một gia đình khá giả, nhà cửa khang trang. Các con thành đạt. Hiện nay ông bà
công tác tại Tp.Hồ Chí Minh.
Đỗ Tuyên Quang, bà là Nguyễn
Thị Phụng. Học giỏi. Tốt nghiệp Đại học Hàng hải. Hiện nay gia đình định cư tại
Mỹ.
Đỗ Hải Dương, bà là Lương
Thanh Bình, sinh được 2 con gái. Học giỏi. Kỹ sư điện. Hiện nay gia đình định
cư tại Canada.
Đỗ Phú Thọ, bà là Nguyễn Thị
Hậu, sinh được 1 trai, 1 gái. Hiền lành, chăm chỉ. Kỹ sư cơ khí. Nuôi các con
học giỏi. Hiện nay gia đình định cư tại Canada.
Đỗ Văn Tôn, bà là Ngô Thị
Mưu, sinh được 3 trai, 3 gái. Hiền lành, hăng hái tham gia mọi việc của anh em
bà con trong Họ. Ông bà đều thọ trên 60 tuổi. An táng tại nghĩa trang Xuân Mai.
Đỗ Văn Tạo, bà là Ngô Thị
Tùi, sinh được 5 trai, 2 gái. Tính tình điềm đạm, cần cù, giản dị, lao động tích
cực làm ra nhiều của cải để tạo dựng cho các con đều trưởng thành. Hiện nay gia
đình định cư tại Hiền Lương.
Đỗ Văn Tín, bà là Hoàng Thị
Nội, sinh được 1 con gái. Tính tình hiền lành, có nhiều tình cảm sâu sắc với
cha mẹ, và các em. Ông là trụ cột của gia đình, cần cù lao động cho bố mẹ và
các em. Năm 1946, gia nhâp quân giải phóng rồi bị thương ở mặt trận Trần Hưng
Đạo, được đưa về Quân Y viện Phúc Trừu, Thái Nguyên và hy sinh tại đó. Tháng 3
năm 1996, gia đình đưa hài cốt ông về nghĩa trang liệt sĩ Phúc Thắng.
Đỗ Văn Hồng (tức Đỗ Văn Ái),
năm 18 tuổi tình nguyện đi Vệ quốc quân năm 1945, tham gia tiễu phỉ tại Vĩnh
Yên. Năm 1946, chiến đấu hy sinh tại mặt trận Sơn La.
Đỗ Ngọc Ngại, bà là Đặng Thị
Tiêm, sinh được 4 trai, 2 gái. Tính tình thẳng thắn, thật thà, thuyết phục, nói
với ai không đồng ý thôi không tranh luận. Học hết phổ thông, năm 1959 tốt
nghiệp y tá, năm 1969 học bổ túc kết toán tài chính, năm 1975 học trường Kinh
tế Kế hoạch tỉnh Vĩnh Phú. Hơn 20 năm thực thi các ngành nghề ông đã học, được Nhà
nước tặng thưởng Huân chương chông Mỹ hạng 3. Với anh em trong Họ, ông đều quý
trọng. Bị ảnh hưởng do gia đình bị quy oan trong CCRĐ, ông có những hạn chế
trong bước đường công danh, tuy vậy đến nay gia thất của ông rất đàng hoàng,
các con thành đạt.
Đỗ Duy Hùng, bà là Trịnh Thị
Lan, sinh được 2 trai, 3 gái. Học hết phổ thông, năm 1957 ông đi làm NVQS đợt
thí điểm đầu tiên của cả nước. Năm 1960, học Trường Cơ giới Thủy lợi, ra trường
ông công tác ở nhiều miền đất nước: Hà Tây, Vĩnh Phú, Điện Biên, Thái Nguyên,
Thanh Hóa. 20 năm công tác liên tục, ông đã tham gia xây dựng nhiều công trình
cho đất nước, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương hạng 2. Trong Họ, ông là
một thành viên tích cực, giúp đỡ anh em không nề hà. Nay ông đã nghỉ hưu tại
quê nhà.
Đỗ Như Sơn, bà là Nguyễn Thị
Chiêm, bà kế là Đỗ Thị Điển, sinh được 2 trai, 4 gái. Tốt nghiệp kỹ sư nông
nghiệp, ông đi thực tập tại Liên Xô. Về nước làm Hiệu trưởng Trường Nông nghiệp
Vĩnh Phú, sau chuyển về Trường Đại học Sư phạm Xuân Hòa, làm Chủ tịch Công đoàn,
được phong hàm Giáo sư.
Đỗ Như Lâm, bà là Ngô Thị
Thu, sinh được 1 trai, 2 gái. Hăng hái lên đường nhập ngũ giải phóng miền Nam,
được tặng thưởng nhiều huân, huy chương. Phục viên trở về địa phương, hưởng chế
độ thương binh.
Đỗ Văn Mùa, sinh được 9 người
con. Theo cha định cư ở Thanh Trí, xã Minh Phú hàng chục năm nay.
Thế hệ thứ 10 (từ thế hệ thứ 10 trở đi, không có lời ghi chú cho những người chưa
thành lập gia đình hoặc còn ít tuổi, vì sẽ có nhiều thay đổi trong cuộc sống).
Đỗ Quang Minh, vợ là Nguyễn
Thị Hạ, sinh được 1 trai, 2 gái. Cháu đích tôn và là trưởng Họ tứ chi. Sau khi
đỗ tú tài, anh vào học trường Trung cấp kỹ thuật. Ra trường, về Thái Nguyên
công tác, làm Phó giám đốc Công ty Vật liệu xây dựng. Lên đường nhập ngũ, chiến
đấu ở mặt trận biên giới, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Anh có nhiều công
lao trong công việc trùng tu nhà thờ Họ tứ chi.
Đỗ Văn Dũng, vợ là Đặng Thị
Loan, sinh được 1 trai, 2 gái. Đỗ tú tài, vào học trường dạy nghề Việt-Xô, nhập
ngũ lên mặt trận Tây Bắc. Hiện nay công nhân nhà máy Toyota.
Đỗ Quang Từ, vợ là Nguyễn
Thị Tuyết, sinh được 1 trai, 2 gái. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm, anh được bổ
nhiệm dạy học Trường cấp III Yên Bái, sau về Trường cấp III Kim Anh và Phúc
Yên. Trong nội tộc, anh tham gia mọi công việc.
Đỗ Quang Huân, vợ là Nguyễn
Thị Bình, sinh được 1 trai, 1 gái. Tốt nghiệp kỹ sư nông nghiệp về công tác tại
Phòng Nông nghiệp huyện Mê Linh, Vĩnh Phú. Anh mở cửa hàng thuốc thú y và thuốc
bảo vệ thực vật tiến triển tốt, gia đình khá giả. Anh có nhiều đóng góp cho công
việc chung của Họ.
Đỗ Quang Hân, vợ là Nguyễn
Thị Thảo, sinh được 1 trai, 2 gái. Học xong phổ thông, lên đường nhập ngũ, sĩ
quan hải quân. Phục viên sang Liên Xô học, về nước làm giáo viên dạy nghề và mở
cửa hàng kinh doanh. Có nhiều gắn bó với quê hương, được cảm tình tốt của bà
con trong Họ.
Đỗ Quang Hiếu, vợ là Nguyễn
Thị Thạch, sinh được 2 trai. Học hết phổ thông, anh Hiếu học nghề lái xe, hiện
nay đầu tư xây dựng nhà in lớn ở Hà Nội.
Đỗ Hòa Bình, vợ là Nguyễn
Thị Thìn, sinh được 2 con trai. Học hết phổ thông, lên đường nhập ngũ giải
phóng miền Nam, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Phục viên, vào học Khoa Thú y,
ĐHNN, tốt nghiệp về làm Giám đốc Nông trường chăn nuôi T80, Phó ban Khuyến nông
huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc. Anh có cửa hàng bán thuốc thú y và thuốc bảo vệ thực
vật ở địa phương rất có uy tín.
Đỗ Cao Thế, vợ là Nguyễn Thị
Hiên, sinh được 2 trai. Học hết cấp II phổ thông, lên đường làm NVQS. Xuất ngũ
về địa phương làm trợ lý đắc lực cho cửa hiệu của anh Bình.
Đỗ Văn Quyền, vợ là Nguyễn
Thị Đạo, sinh được 2 con trai. Học xong phổ thông vào học trường Trung cấp Địa
chất. Ra trường vào công tác tại Tây Ninh, Nam Bộ sau về làm nông nghiệp. Cần
cù lao động, gia đình khá giả, tích cực tham gia công việc của Họ.
Đỗ Văn Toản, vợ là Đỗ Thị
Giỏi, sinh được 1 trai, 2 gái. Tính tình khiêm tốn, hiền hậu. Học hết cấp II, ở
nhà làm nông nghiệp. Gia đình khá giả.
Đỗ Việt Hồng, vợ là Nguyễn
Thị Hà, sinh được 1 con trai. Thông minh, hiếu thảo. Thạc sĩ tiếng Anh, Trưởng
khoa Ngoại ngữ Trường Du lịch Vũng Tàu. Hiện nay gia đình anh định cư tại Vũng
Tàu.
Đỗ Kim Thành, vợ là Ngô Thị
Phận, sinh được 1 trai, 1 gái. Học hết cấp III, lên đường nhập ngũ, chống chiến
tranh biên giới, quân hàm Thượng sĩ, trung đội trưởng. Giải ngũ, về làm nông
nghiệp. Tham gia mọi công việc của Họ.
Đỗ Minh Tuấn, vợ là Đỗ Thị
Thuận, sinh được 1 trai, 1 gái. Học hết cấp III, đi NVQS, xuất ngũ cấp bậc
Thượng sĩ, làm nông nghiệp, gia đình khá giả.
Đỗ Đức Căn, vợ là Nguyễn Thị
Lan, sinh được 1 trai, 2 gái. Tính tình sôi nổi, nhạy bén với thời cuộc, có tâm
huyết với gia tộc. Anh là cháu đích tôn của gia đình Mai Lĩnh. Tù Côn Đảo trong
thời gian miền Nam còn tạm thời chia cắt. Hiện nay công tác tại Viện Bảo tàng
Lịch sử Tp.Hồ Chí Minh. Gia đình khá giả, định cư ở Tp.Hồ Chí Minh.
Đỗ Tất Hùng, vợ là Nghiêm Thu
Trang, sinh được 1 trai, 1 gái, tốt nghiệp Tổng hợp Toán tại Liên Xô, thành
thạo tiếng Trung Quốc, tiếng Nga... Gia đình khá giả, định cư ở Hà Nội.
Đỗ Tất Tạo, vợ là Đào Thị
Phụng, sinh được 1 trai, 1 gái. Bác sĩ nội trú bệnh viện Paris, bác sĩ Khoa Gây
mê Hồi sức, bệnh viện Việt Đức. Gia đình khá giả, định cư ở Hà Nội.
Đỗ Tất Thắng, vợ là Tạ Thị
Thuận, sinh được 1 trai, 2 gái. Tháo vát, tự tin, đã làm là thành công. Gia
đình khá giả, định cư ở Hà Nội.
Đỗ Hữu Đức, vợ là Nguyễn Thị
Lan Anh, sinh được 1 gái, 1 trai. Phó tiến sĩ KHKT. Gia đình khá giả, định cư ở
Hà Nội.
Đỗ Thăng Long, vợ là Lidia
Kujda Đỗ, sinh được 1 trai. Kỹ sư quang điện tử. Gia đình khá giả, định cư tại
Ba Lan.
Đỗ Minh Sơn, vợ là Lại Thị
Kim Thoa, sinh được 1 trai, 1 gái. Thông minh, tháo vát. Gia đình khá giả, định
cư tại Hà Nội.
Đỗ Văn Chiến, vợ là Đỗ Thị
Dệt, sinh được 1 trai, 2 gái. Học hết cấp II, ở nhà làm nông nghiệp. Gia đình
khá giả.
Đỗ Văn Tân, vợ là Nguyễn Thị
Kết, sinh được 1 gái, 1 trai. Cần cù, giản dị, thật thà. Học hết cấp II ở nhà
làm nông nghiệp.
Đỗ Văn Lịch, vợ là Ngô thị
Hùng, sinh được 4 con trai. Quân nhân chuyên nghiệp cơ giới đã nghỉ hưu. Gia
đình khá giả. Nuôi con ăn học tốt.
Đỗ Văn Vạn, vợ là Đỗ Thị Vụ,
sinh được 2 trai, 2 gái. Gia đình khá giả, định cư tại Hiền Ninh, Sóc Sơn.
Đỗ Văn Thành, vợ là Nguyễn
Thị Quyến, sinh được 2 trai. Gia đình khá giả, định cư tại Hiền Ninh, Sóc Sơn.
Đỗ Văn Liên, vợ là Nguyễn
Thị Hải, sinh được 3 trai, 2 gái. Định cư tại Hiền Ninh, Sóc Sơn.
Đỗ Văn Hanh, vợ là Nguyễn
Thị Huyền, sinh được 1 trai, 1 gái. Định cư tại Hiền Ninh, Sóc Sơn.
Đỗ Minh Hiếu, vợ là Đinh Thị
Mỵ, sinh được 1 trai, 1 gái. Học hết phổ thông, lên đường nhập ngũ, chống chiến
tranh biên giới, quân hàm Thượng sĩ, cấp bậc trung độ trưởng. Phục viên ở nhà
làm nông nghiệp, tích cực tham gia công việc của Họ.
Đỗ Minh Thảo, vợ là Trương
Thị Trâm, sinh được 2 trai, 1 gái. Phổ thông cấp II, nhập ngũ binh chủng Phòng
không - Không quân, trắc thủ rađa, đơn vị tên lửa bảo vệ Thủ đô. Xuất ngũ, xây
dựng gia đình ở Thanh Trì, Hà Nội. Hiện nay làm việc ở nhà máy Bóng đèn huỳnh
quang Hà Nội.
Đỗ Văn Huy, vợ là Nguyễn Thị
Đích, sinh được 1 con gái. Học xong phổ thông, lên đường nhập ngũ, học trường
hạ sĩ quan. Xuất ngủ, về nhà làm nông nghiệp với nghề phụ là xây dựng.
CHI LỢI
(5-8)
Thế hệ 5
|
Thế hệ 6
|
Thế hệ 7
|
Thế hệ 8
|
Đỗ Phúc Chính
|
Đỗ Phúc Kinh
|
Đỗ Phúc Sỹ
|
Đỗ Phúc Uy
|
Đỗ Phúc Mã
|
|
Đỗ Phúc Kỳ
|
Đỗ Phúc Khê
|
|
Đỗ Phúc Lệ
|
|
CHI LỢI
(8-11)
Thế hệ 8
|
Thế hệ 9
|
Thế hệ 10
|
Thế hệ 11
|
Đỗ Phúc Uy
|
Đỗ Phúc Quý
Đỗ Thị Tước
|
Đỗ Thị Ước
?
|
|
Đỗ Văn Giao
Hoàng Thị Cỏn
|
Đỗ Văn Ngọc
Đỗ Thị Thực
Đỗ Thị Thà
Đỗ Văn Phúc
Đỗ Thị Đức
|
Thế hệ thứ 7:
Đỗ Phúc Sỹ, sinh được 1 con trai, an phận phú ông.
Đỗ Phúc Mã, Đỗ Phúc Khê, Đỗ
Phúc Lệ không có con.
Thế hệ thứ 8:
Đỗ Phúc Uy, sinh được 1 con trai, gia đình cụ khá
giả, an phận thủ thường.
Thế hệ thứ 9:
Đỗ Phúc Quý, bà là Đỗ Thị Tược, sinh được 1 gái, 1
trai. Ông Quý sinh ra và lớn lên trong một gia đình khá giả, kín cổng cao
tường, giao lưu ít, được các cụ chỉ bảo nhiều. Ông làm Thủ quỹ thời phong kiến.
Ông thuộc cành út của Họ, được cưng chiều nhiều hơn cả. Đức tính cần cù, an
phận thủ thường theo suốt cuộc đời của ông. Ông mất ngày... thọ 75 tuổi.
Thế hệ thứ 10:
Đỗ Văn Giao, vợ là Hoàng Thị
Cỏn, sinh được 2 trai, 3 gái. Tốt nghiệp trường Sư phạm, anh Giao về công tác ở
miền núi, đem ánh sáng văn hóa về cho con em các dân tộc. Hai mươi năm làm công
việc “trồng người”, anh Giao đã góp phần đào tạo lớp lớp trí thức trẻ người
miền sâu, miền xa, xứng đáng vai trò người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cuốn gia phả họ Đỗ Phúc
Lương này đã dựa vào các tài liệu sau đây để xây dựng:
1. Gia phả họ Đỗ do ông Đỗ
Phúc Quý lưu trữ.
2. Gia phả của gia đình Mai
Lĩnh.
3. Gia phả của gia đình ông
Đỗ Năng Thoại.
4. Gia phả của gia đình ông
Đỗ Ngọc Ngại.
5. Chỉ đạo của Ban Sưu tầm
tư liệu.
LỜI BẠT
Cuốn gia phả này được soạn
thảo với tinh thần trách nhiệm cao trước dòng Họ, nhưng do tư liệu quá ít, mất
mát nhiều do chiến tranh, hơn nữa mọi người ở rất phân tán, điều kiện thông tin
liên lạc còn hạn chế không thể tránh khỏi có chỗ sai, chỗ thiếu. Kính mong độc
giả chỉ cho những chỗ thiếu sót và cung cấp những tư liệu để có thể sửa chữa
cho lần in sau.
Chịu trách nhiệm bản thảo :
Đỗ Ngọc Ngại
Làm chế bản :
Đỗ Như Lân
In 50 cuốn tại nhà in của ông :
Đỗ Quang Hoan