Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Ai đi thăm trại tù An Nam tại Guyanne cùng với chúng Tôi nào !

Năm nay là năm thứ 85 kể từ khi Cụ Đỗ Văn Phong từ trần .
Địa chỉ nhà trọ : 9 Avenue Pasteur Résidence Camille, Cayenne  Liên lạc : Severine Vielet +596 696958262

1/ Thăm Văn Khố Cayenne ,cách nhà trọ 600 mét 
Tên đầy đủ là : Archives départementales
Sandra Montabord -bà giám đốc 
sandra.montabord@cg973.fr
Địa chỉ : Place Léopold Héder, 97307 Cayenne Cedex
Tél. : 0594.29.52.70
Thứ hai và thứ năm :từ 7 giờ 30 tới 16 giờ 
Thứ ba,tư và sáu :từ 7 giờ 30 tới 14 giờ 30
www.cg973.fr/-Archives-departementales

Vào đọc tại salle de lecture miễn phí (gratuit) trình passport .
Chủ yếu ta đọc serie Y : Quản lý nhà tù Administration pénitentiaire (1800-1947)

1 Y. Fonds du gouvernement de la colonie.
2 Y. Fonds des établissements pénitentiaires.
- Prison civile de Cayenne
- Administration pénitentiaire coloniale (déportation, transportation, relégation).


DIRECTION IMPRIMERIE DOCUMENTATION
Directeur : Olivier BELLONY
Localisation : 26, rue du Lt Brassé - 97300 Cayenne
Tél. : 0594 29 59 90
Fax : 0594 30 20 25
Mèl : olivier.bellony@cg973.fr

Service documentation
Responsable : Jacqueline MATOS
Localisation : 26, rue du Lt Brassé - 97300 Cayenne
Tél. : 0594 29 59 94
Fax : 0594 29 52 89
Mèl : jacqueline.matos@cg973.fr

Bibliothèque Alexandre Franconie
Responsable : Marie-Annick ATTICOT
Responsable adjointe : Sylvie Pappalardo
Localisation : 1, avenue du Général de Gaulle - 97300 Cayenne
Tél. : 05 94 29 59 16
Fax : 05 94 29 59 12
Mèl : marie-annick.atticot@cg973.fr
Mèl : sylvie.pappalardo@cg973.fr


Musée départemental
Responsable : David CARITA
Responsable adjoint : Lucien IBRIS
Localisation : 1, avenue du Général de Gaulle - 97300 Cayenne
Tél. : 05 94 29 59 13
Fax : 05 94 29 59 11
Mèl : david.carita@cg973.fr
Mèl : lucien.ibris@cg973.fr

Le musée est ouvert toute l’année.
Lundi : de 10h00 à 14h00 ET de 15h00 à 18h00
Mercredi : de 8h00 à 13h30 ET de 15h00 à 18h00
Jeudi : de 8h00 à 14h00 L’après-midi Fermé
Vendredi : de 8h00 à 14h00 ET de 15h00 à 18h00
Samedi : de 9h00 à 13h30 L’après-midi Fermé
Fermé les mardi et dimanche.
Nocture : de 18h00 à 21h00 tous les derniers vendredi du mois
Tarif normal : 3 euros
Tarif réduit : 2 euros
Etudiants
Retraités
Handicapés sur présentation d’une pièce justificative
Groupes d’adultes à partir de 10 personnes)



Service départemental des actions culturelles
Responsable : Marie-Patrice BENOIT
Responsable adjointe : Mireilla Molinier
Localisation : 27, avenue Pasteur - 97300 Cayenne
Tél. : 0594 28 86 50
Fax : 0594 28 86 51
Mél : marie-patrice.benoit@cg973.fr
Mél : mireilla.molinier@cg973.fr





Nhà tù Lâm nghiệp (La Forestière) nằm bên dòng sông Maroni. Sau 35 ngày lênh đênh trên đại dương với con tàu la Martinière,đầu tiên họ được đưa tới nhà tù tại mũi Buzaré.Ngày nay mũi này là một vùng đầy dừa tạo nên một phong cảnh êm đềm giữa một  Cayenne đang đô thị hóa mau chóng .

Tại làng Apatou, thuộc trại Forestière,là một trong ba trại tù chuyên cho "Annamites”, vào năm 2011, nhân kỷ niệm 80 năm trại tù này người ta có treo tấm bảng tưởng nhớ những người tù Việt Nam 
Cuối thế kỷ 19 ,vùng này thuộc sở hữu của Công ty La Compagnie Forestière et Commerciale du Maroni tức Công ty Lâm nghiệp và Thương mại Maroni chuyên khai thác gỗ.


Năm 1878, Cục Quản lý Nhà Tù (Administration pénitentiaire ) lập một trại nhỏ tại Fusillés Marins. Nhưng chỉ ít lâu sau,trại phải đóng cửa vì bệnh sốt vàng da khiến tù nhân chết gần hết .Sốt vàng là  chứng bệnh sốt gây vàng da do siêu vi trùng thuộc họ Flaviviridae gây ra Đây là một chứng bệnh sốt xuất huyết quan trọng tại châu Phi và Nam Mỹ mà nay đã có vắc xin hiệu nghiệm.Sốt vàng từng gây nhiều trận dịch tàn khốc, giết hại hàng trăm ngàn người.Cho đến thế kỷ 20 khi khoa học khám phá ra bệnh lây do muỗi đốt và nghiên cứu được phương cách phòng chống bằng vắc-xin.



Cho tới Thế Chiến I ,vùng này nổi tiếng là nơi khai thác vàng và gỗ và cũng là nơi đầy trộm cướp và buôn lậu .Vào năm 1931, một phần của khu vực này được chuyển giao cho Cụ Quản lý Nhà Tù để thành lập một EPS (centre de détention spécialisé ) tức một Trung tâm Trừng giới Đặc biệt giành cho tù nhân từ Đông Dương tới . Hàng trăm tù nhân được huy động để làm con đường về Paul Isnard và một con đường sắt nối với cảng Inini (Tonnegrande).Tới năm 1935, EPS này bị đóng cửa và chỉ còn một bộ phận hành chính tồn tại tới năm 1939.Sau những vụ bất ổn bạo lực ,ngày 19/09/1931 ,các tù nhân được đưa về các cơ sở xây dựng ,khoảng hơn 100 người được đưa về Lâm nghiệp La Forestière, số còn lại (395 người ) được đưa về Trại Suối Lươn (Crique Anguille).

Ngày nay,để thăm trại Lâm nghiệp ,chúng ta nên liên lạc với ông 
Thị trưởng hay Văn phòng Du lịch Apatou. Để tới vị trí này ta phải qua môt con đường nhiều lối mòn hoặc bằng thuyền độc mộc (en passant empruntant des piste puis 10mn de marche ou directement en pirogue.) Vị trí : GPS : N 04°51.150′ W 052°17.008′

NHÀ TÙ AN NAM TẠI SUỐI LƯƠN





Ce layon aménagé à travers bois vous permet de découvrir les ruines de cet ancien bagne situé sur la commune de Montsinéry.

Il est accessible à partir du RD5, à quelques 15 KM après le carrefour de Montsinéry. L’entrée est discrète mais un panneau de signalisation l’indique.

Attention néanmoins, l’entrée du layon se situe sur un terrain privé interdit d’accès. De plus, un panneau à même le sol averti que le parcours est fermé car non sécurisé. Vous l’emprunterez à vos risques et périls.
C’est vrai que ce layon ne compte pas parmi les plus entretenus qu’il nous ai été donné de parcourir. Il est très boueux, les installations en bois censées faciliter la marche sont cassés, voir glissants par temps de pluie.



 Evitez donc d’y aller avec des enfants. Il est temps qu’il soit réhabilité.   
Sau khoảng một giờ đi bộ,ta có thể tìm thấy những dấu vết của nhà tù xưa cũ với những bức tường còn sót lại,một con đường sắt dẫn tới cảng Inini, một động cơ rỉ sét có lẽ của một chiếc xe hơi ....
Cuối cùng ,tới đầu một đầu đường nhỏ, ta sẽ tới con sông Tonnegrande .



Ta có thể tới nhà tù Annamites bằng đường thủy .Tại cầu Inini trên đường CD5 (như trên hình chụp) và đi về phía cầu . 


Chèo thuyền độ  2 giờ sẽ tới đường mòn dẫn tới nhà tù Annamites.Ta phải đi bộ 1 giờ nữa .

Trại Suối Lươn (camp Crique Anguille), thường gọi là nhà tù Annamites nằm trong làng Montsinéry-Tonnegrande.

Trại thành lập tháng Sáu năm 1930 cùng thời với trại Lâm nghiệp La Forestière và Trại Vuốt Hổ Camp Saut du Tigre, những trại này không thuộc Cục Quản lý Nhà tù mà trực tiếp dưới sự cai quản của Thống đốc Guyane. Ban đầu,trại gồm bảy căn nhà bằng gỗ ,nhà chủ trại và các chuồng cọp (cachot) và một nhà ăn ,tất cả đều do những tù nhân tới trước dựng nên .Le but de ce camp (comme des deux autres créés en même temps) était de développer la région de l’Inini, alors entièrement recouverte de forêts. Les premières pistes sont tracées à partir de 1934.

À partir de 1939, les détenus sont progressivement libérés à la fin de leur peine. Lors du déclenchement de la guerre en 1940, les tirailleurs sénégalais qui officient comme gardiens furent remplacés par des militaires guyanais.

Le camp est définitivement fermé en 1945. Les Indochinois qui y sont encore sont graciés et s’installent dans la ville de Cayenne pour y fonder ce qui est encore aujourd’hui appelé le quartier chinois.

Chẳng bao lâu sau khi Vincent Pinçon cập bờ Guyanne vào năm 1500, liền sản sinh ra huyền thoại El Dorado, một thiên đường đầy vàng bạc và người ta rỉ tai nhau về những người thổ dân Inca trống chạy mang theo nhiều của cải châu báu . Huyền thoại El Dorado đã dẫn tới nhiều cuộc thám hiểm suốt thế kỷ 16 dọc theo các vùng Guyane, mais ce n'est que de 1604 que date la première entreprise historique des Français dans ce pays. Il y alors des Gascons, puis des Rouennais en 1626 et en 1643, des Parisiensen 1652 et 1664. Les écarts de régime, les dissensions intestines et la juste vengeance des Indiens eurent raison de ces premiers débarqués. Colbert, en 1664, créa la Compagnie des Indes occidentales, à laquelle il concéda la possession de la Guyane comme celle de toutes les autres terres américaines qui appartenaient à la France; mais dès 1674 il retira à cette compagnie ses privilèges et administra directement la colonie. Sous son impulsion, elle devint très prospère. Il introduisit àCayenne la culture de la canne, du coton et de l'indigo. Comme la colonie manquait de bras, il lui en procura par le moyen de la traite des esclaves arrachés à l'Afriqueet en y transportant des galériens. En 1716, on commença à cultiver le café à la Guyane, et en 1730 on tenta la culture du cacao.Après la perte du Canada en 1763, Choiseul, cherchant une compensation, confia le gouvernement de la Guyane à Champvallon, qui emmena sur la plage du Kourou 15000 Alsaciens-Lorrains. Il en mourut 12 000 en quelques mois de la dysenterie et de la faim. En 1776, l'intelligent Malouet fut nommé gouverneur de la Guyane, et il entreprit de transformer le pays par la canalisation. Malheureusement il ne resta en charge que deux ans et ne put réaliser ses projets. Au début de la Révolution, l'émancipation soudaine des esclaves fut très fatale à la prospérité de la colonie. 



Un peu plus tard on fit de celle-ci un lieu d'exil pour les victimes des discordes civiles-: les prêtres insermentés et les exilés de fructidor y furent déportés. Beaucoup y moururent et les survivants ne contribuèrent pas peu à décrier la Guyane. En 1809, elle fut conquise par les Anglais et les Portugais et ne fut rendue à la France que par les traités de 1814 et de 1815. En 1858, l'abolition subite de l'esclavage, quelque légitime qu'elle fût, fit éclater une crise violente à la Guyane et ruina la plupart des établissements sucriers. Le second Empire y relégua les condamnés politiques et plus tard les forçats. Dans la deuxième moitié du XIXesiècle, on y envoyait les condamnés arabes, africains ou asiatiques. Il y en avait un dépôt aux îles du Salut, un autre à Cayenne et un troisième à Saint-Laurent-du-Maroni où l'on accordait des concessions aux condamnés libérés. Il existait aussi un petit établissement pénitentiaire à Kourou. A la fin du XIXe siècle, les bagnes de Guyane n'accueillaient plus de déportés politiques; seulement des prisonniers de droit commun. Le dernier de ces bagnes, celui de Cayenne (à l'île du Diable), n'a plus reçu de condamnés à partir de 1937. La fermeture complète a eu lieu en 1951. 



La Guyane est devenue en 1946 un département d'Outre-mer de la France (c'est aujourd'hui aussi une région). Les tentatives de développement de l'agriculture qui ont été menées en Guyane n'ont jamais véritablement abouti et l'activité économique, fortement dépendante des aides de la Métropole, tourne surtout autour de celle du centre spatial de Kourou, depuis son ouverture en 1968. Depuis les années 1970, des revendications indépendantistes, parfois accompagnées d'attentats à la bombe, se font entendre dans le département. Le fort taux de chômage des jeunes qu'on y enregistre est en partie à mettre en relation avec les violences urbaines qui ont éclaté dans les années 1990. La Guyane est également confrontée à une forte immigration illégale en provenance du Suriname et du Brésil. 

La colonisationL'état chronologique ci-dessous donne la liste de leurs différentes tentatives de colonisation dans la contrée jusqu'à la fin du XIXe siècle.

1604. Quelques Français se fixent sous la conduite de La Ravardière dans l'île fluviale qui devait plus tard s'appeler l'île de Cayenne. -1604. Une petite colonie anglaise, sous Charles Leigh, occupe la rive gauche des bas Oyapock qu'elle évacue au bout de deux ans. Mais une seconde colonie anglaise s'y installe encore pour quelques mois en 1608, sous Robert Harcourt. - 1626. 26 Français viennent sous la conduite des sieurs de Chauteil et de Chambaut, représentants de la Compagnie des marchands de Rouen, s'établir sur les bords du Sinnamary. - 1628. Quelques colons envoyés par la même compagnie se fixent, sous le commandement du capitaine Hautepine qui y laissa pour y commander son lieutenant Lafleur, sur les rives du Counamana. - 1630. 50 hommes sont amenés, sous la conduite du sieur Legrand, pour renforcer la colonie de Counamama. - 1633. 66 hommes conduits par le capitaine Grégoire viennent encore renforcer la colonie de Counamama. Cette même année, les Anglais et les Hollandais, chacun de leur côté, font un établissement dans l'île qui sera plus tard l'île de Cayenne. - 1634. Un certain nombre de Français envoyés par une nouvelle compagnie de marchands normands, compagnie qui avait obtenu, en 1633, le privilège du commerce et de la navigation des pays situés entre les rivières Orénoque et Amazone, les deux incluses, s'établissent sur la côte de Rémire qu'ils commencent à cultiver. En 1635, ils fondent le village qui prit bientôt le nom de Cayenne et bâtissent un fort pour le défendre. - 1638. Quelques Français se trouvent en outre à cette époque au Maroni et vers le Cap de Nord, ainsi que le constatent les lettres patentes de la compagnie de 1633 renouvelées en 1638. - 1643. 300 hommes sous la conduite de Poncet de Brétigny, représentant de la Compagnie du Cap de Nord qui avait remplacé dans tous ses privilèges celle de 1633, se fixent dans l'île de Cayenne, au mont Cepérou, non loin du Cayenne de 1635. Les colons des expéditions précédentes furent trouvés le long des côtes, réduits presque à rien, parlant la langue des Galibis dont ils avaient pris les moeurs. 1645. 40 hommes de renfort sont envoyés par la Compagnie du Cap de Nord. Mais Poncet de Brétigny avait été tué par les Indiens et ses 300 hommes étaient réduits à 25. Sur ces 25 hommes 16 seulement consentirent à rester, les autres se rembarquèrent. Des 16 restants, 14 furent tués par les Indiens, 2 seulement purent se sauver en 1645 à Suriname, chef-lieu du territoire pris par les Hollandais, entre le Maroni et l'Orénoque. En 1645, la Guyane était vide de colons. De 1604 à 1645 il en était mort environ 600.

1652. Environ 700 hommes d'une nouvelle compagnie de la France équinoxiale, substituée aux droits et privilèges de la Compagnie du Cap de Nord, débarquent à Cayenne sous la conduite des douze seigneurs, successeurs du sieur de Roiville, assassiné pendant la traversée. 60 hommes étaient arrivés à Cayenne quelque temps auparavant, envoyés par la Compagnie du Cap de Nord, qui, mais en vain, voulut essayer de se maintenir. Les 60 hommes se soumirent aux seigneurs de la Compagnie de la France équinoxiale. - 1654. La colonie est encore une fois détruite par les Indiens et par les dissensions intestines. Ses restes se réfugient à Suriname. Peu après les Hollandais, sous Spranger, s'emparent de l'île de Cayenne qui était redevenue déserte et amènent avec eux les premiers esclaves noirs qu'ait vus la colonie.

Colons morts de 1645 à 1654, environ 700, plus 600 morts de 1604 à 1645. Total en1654 : 1300 colons morts dans la Guyane française. -1663.1000 nouveaux colons français sont envoyés par la Compagnie de la France équinoxiale dans l'île de Cayenne, d'où ils chassent les Hollandais. - 1664. Quelques colons sont envoyés, sous le commandement de M. de la Barre, par la compagnie des Indes occidentales, à laquelle furent cédés en 1664 les droits et privilèges de la compagnie de la France équinoxiale, pour prendre la colonie à l'ancienne compagnie et fortifier la colonie naissante. - 1667. Les Anglais ravagent entièrement la colonie et l'abandonnent sans y faire d'établissement. Les débris de la colonie, sous M. de La Barre, se remettent au travail. Le chef-lieu est alors à Armire (Rémire). - 1674. La Compagnie des Indes étant supprimée, la colonie passe en domaine royal. - En 1676. La colonie est prise par les Hollandais qui avaient déjà établi clandestinement de petites colonies à Approuague et à Oyapock. A la fin de cette même année 1676, la colonie est reprise par d'Estrées. . En 1677, le chevalier de Lézy, gouverneur de Cayenne, chasse les Hollandais de l'Oyapock. Quelquesflibustiers s'établissent avec leurs richesses dans l'île de Cayenne, Rémire est abandonné comme chef-lieu pour le fort Saint-Louis de Cayenne. - 1688. La plus grande partie des habitants s'embarquent avec le corsaire Ducasse pour aller piller Suriname. L'expédition ayant échoué, ceux des survivants qui ne furent pas faits prisonniers se réfugièrent aux Antilles avec Ducasse.

Colons morts de 1663 à 1688 : environ 700. Total des colons détruits de 1604 à1688, environ 2000. - 1688. Le chevalier de La Motte-Aigron remonte l'Oyapock pendant 50 lieues, pour arriver à l'Amazone, mais il est obligé de rebrousser chemin. -1696. 600 Français environ, d'après Froger, compagnon de M. de Gennes, peuplaient alors l'île de Cayenne et ses environs immédiats, dont 200 hommes pour la garnison de Cayenne. Il existait dans la colonie, dès 1685, 1500 esclaves noirs. - 1725. D'Orvilliers, gouverneur de Cayenne, fait établir le fort Saint-Louis sur la rive gauche de l'Oyapock, en face du Taprabo (Taparoubo); le village de Saint-Pierre d'Oyapock se forme et se développe à côté du fort Saint-Louis. -1740. Population : 5290 (dont 1000 environ à Cayenne), 566 Blancs; 54 affranchis ; 4634 esclaves noirs; 36 Indiens. - 1744. Le corsaire anglo-américain Potter détruit le fort Saint-Louis et le village de Saint-Pierre à l'Oyapock. Le fort Saint-Louis, reconstruit, est attaqué par les Portugais en 1794. -1762. Réductions indiennes du Kourou : 6500 Indiens. Réductions indiennes de l'Oyapock, 2000 Indiens. Total, 8000 Indiens. De1764 à 1766, les Indiens des Réductions de Kourou disparaissent et ceux de l'Oyapock se disséminent. -1763-1765. Expédition de Kourou : environ 12000 morts. - 1766. Colonisation de Tonnégrande (Bessner), 80 soldats agriculteurs. Meurent tous. - 1775. Population : 9300; 1300 personnes libres; 800 esclaves. -1777-1780. Fondation du poste de Vincent-Pinçon et des missions de Macari et de Counani. - 1783. Colonisation de Cachipour (Bessner). - 1788. Colonisation de l'Approuague (Villeboi). - 1790. Population : 14 520; 2000 blancs; 520 personnes de couleur libres; 12 000 esclaves, population indigène employée par les colons environ 800 Indiens de différentes tribus. -1791. Colonisation du Ouanari (Compagnie du Sénégal). - 1794. Les Portugais détruisent Vincent-Pinçon, Macari, Counani et ravagent l'Ouassa et l'Oyapock. -1795. Proscrits montagnards de Germinal et de Prairial. - 1797-1798. 600 proscrits réactionnaires (du 18 fructidor), à Sinnamary et à Counamama, 16 en 1797, puis plus de 500 en 1798. J.-J. Aimé, un des déportés de Fructidor, donne un tableau de mortalité concernant 329 déportés, 8 sont morts pendant la traversée et 55 furent débarqués d'urgence, pour cause de maladie due aux mauvais traitements du bord. Professions libérales, morts : 11 sur 45 ; ecclésiastiques 147 sur 255 ; hommes de métiers, 5 sur 21. Total sur 321 163 morts dont 147 ecclésiastiques. - 1799. Proscrits du 18 brumaire. -1818. Population : de 15000 à 16000. -1820. Envoi de 32 Chinois; au bout d'un an il n'en reste plus que 3. -1821. A Laussadelphie, sur la Passoura, affluent du Kourou, ferme modèle du gouverneur Laussat, 7 familles de settlers des Etats-Unis. La colonie (164 hommes) est bientôt renvoyée en France en bloc. - 1824. Milius, 3 familles du Jura (27 personnes), à 8 kilomètres de l'embouchure de la Mana, nouveaux envois. La colonie est rapatriée en 1826. - 1828. Mme Javouhey commence à fonder le bourg actuel de Mana qu'elle termine en 1847 avec 36 religieuses, 39 engagistes blancs de trois ans (qui au bout des trois ans l'abandonnent) et 550 Noirs de traite libérés. -1837. Etablissement du fort de Casfesoca à l'Oyapock. - 1838. Création du Fort-Inférieur (fort Malouet) à l'Oyapock. -1839. Population 20 940 (non compris la garnison et les fonctionnaires non propriétaires), population libre, 5189; population esclave, 15 761. - 1851-1854. Transportation ( ci-dessous) - 1857. Population : 25561. -1854-1869. Emigration africaine 1000 Noirs d'Afrique environ pris au Libéra, à Krou (La Côte des Graines) et au Dahomey. A partir de 1869 la traite est interdite. - 1861-1876. Immigration asiatique. Environ 3000 coolies de l'Hindoustan. En 1876, l'Angleterre défend le recrutement sous prétexte de mauvais traitements. A partir de 1860, quelques immigrants annamites.

La "Transportation"

L'introduction en Guyane de condamnés aux travaux forcés date d'un décret de1851. Le premier convoi arriva aux îles du Salut en mai 1852. Plusieurs pénitenciers furent successivement établis qui, pour la plupart, furent successivement évacués pour cause d'insalubrité : celui de la Montagne-d'Argent (1852-1864); celui de Saint-Georges d'Oyapock (1853-1863); les trois pénitenciers de la Comté : Sainte-Marie, Saint-Augustin et Saint-Philippe (1854-1860). Un chantier forestier fut établi aux Trois-Carbets, à 30 kilomètres de l'embouchure du Kourou, et bientôt évacué, puis rétabli; un ponton établi à l'embouchure de ce fleuve fut bientôt abandonné. Dans l'île de Cayenne, les pénitenciers de Bourda et de Baduel durèrent de 1854 à1856; celui de Mont-Joly de 1854 à 1864. Le pénitencier de Cayenne fut établi, en1853, dans la geôle; en 1855, on répartit les déportés sur les pontons; enfin, peu après, le pénitencier de Cayenne fut établi dans une caserne attenant au jardin militaire. De 1852 à 1867, 18000 "transportés" furent envoyés en Guyane. Mais à partir de 1867 jusqu'en 1887, ce fut la Nouvelle-Calédonie qui fut désignée comme principale colonie pénale. Enfin, à partir de 1887, la Guyane reçut tous les condamnés européens ayant à subir plus de huit ans de peine et tous les condamnés de arabes et noirs. De plus, en 1885, la Guyane a été désignée, concurremment à la Nouvelle-Calédonie, pour la relégation collective des récidivistes. 

La Guyane comptait à la fin du XIXe siècle quatre pénitenciers, d'où l'on détachait divers chantiers de travaux publics, le pénitencier de Cayenne, celui des îles du Salut, celui des roches de Kourou et, enfin, le territoire pénitentiaire du Maroni. Les centres principaux du territoire pénitentiaire du Maroni étaient : Saint-Laurent, commune pénitentiaire spéciale, qui formait l'agglomération la plus importante de la colonie après Cayenne; Saint-Maurice, à 4 kilomètres au Sud de Saint-Laurent, qui avait une usine à sucre située au centre des plantations de cannes des concessionnaires; Saint-Jean, à 20 kilomètres, en amont de Saint-Laurent, était le centre de la relégation.En 1889, le nombre total des condamnés en cours de peine était de 3376 hommes et 42 femmes, dont 1065 hommes au Maroni, 561 à Kourou, 626 aux îles du Salut et 1164 à Cayenne. C'est dans le territoire pénitentiaire du Maroni que se trouvaient, en majeure partie, les 2000 libérés astreints à la résidence.

Les Territoires contestés 

La France a eu un long contentieux avec le Portugal, puis avec le Brésil à propos des délimitations des frontières de la Guyane Française. Le territoire contesté entre la France et le Brésil était limité (conférences diplomatiques franco-brésiliennes de 1853-1856), au Nord par l'Oyapock, les Tumuc Hamac et leurs prolongements occidentaux; à l'Est par l'océan Atlantique; à l'Ouest par le rio Branco et au Sud par une frontière formée par l'embouchure Nord de l'Araguary, l'Araguary, et une ligne indéterterminée partant des hauts de ce fleuve pour aboutir au rio Branco, et se confondant plus ou moins avec l'équateur à travers les espaces inconnus de la Guyane centrale. Sa superficie est d'environ 260 000 kilomètres carrés, superficie plus que triple de celle de la Guyane française incontestée. Sa population se composait que d'indiens, sauf dans sa partie littorale et sur la rive gauche du haut rio Branco.

Un autre contentieux frontalier a existé avec les Pays-Bas. Il a été résolu au début du XXe siècle, mais le Suriname, né de l'indépendance de la Guyane hollandaise revendique toujours aujourd'hui une partie du territoire de la Guyane française..

Le contentieux franco-brésilien.

Depuis le XVIIe siècle, la France et le Portugal se disputent la possession de la rive septentrionale de l'Amazone. En 1688, le gouvernement portugais fait établir à l'embouchure du grand fleuve, sur la rive gauche et sur l'emplacement de celui de Carriau pris aux Anglais par les Portugais en 1632, le fort de Macapà et quatre autres petits forts. Les protestations de Louis XIV étant demeurées vaines, celui-ci, en 1697, fait détruire les quatre petits forts et occuper Macapà par M. de Férolles, gouverneur de Cayenne. Les Portugais y rentrèrent la même année.

Le traité d'Utrecht (11 avril 1713), qui devait terminer le différend, ne servit qu'à le prolonger jusqu'au XXe siècle. Le traité dit que la France renonce aux terres du Cap de Nord, situées entre la rivière des Amazones et celle de Vincent-Pinçon; que la navigation de l'Amazone ainsi que les deux bords, les deux rives du fleuve appartiendront au Portugal, et que la rivière de Vincent-Pinçon servira de limite aux deux colonies. Or, les Portugais prétendirent ensuite que la rivière Vincent-Pinçon était l'Oyapock; tandis que les Français considéraient que la rivière de Vincent-Pinçon c'était l'Araguary dont l'embouchure principale se trouvait alors à la baie deVincent-Pinçon au Sud de l'île Maraca. Depuis, on ne put se mettre d'accord. 

Voici quels sont les principaux faits auxquels a donné lieu l'interprétation du traité d'Utrecht.

1745-1720. Les Portugais envoient des missionnaires dans le Yary, jusqu'aux sources de l'Oyapock, et font des incursions chez les populations indiennes de la côte contestée. - 1722. Pour punir les déprédations des Portugais, le gouvernement français envoie un détachement s'installer aux portes de Para, à Maribira, dans l'île des Guaribas. Le détachement reste un an dans le poste conquis. - 1725 à 1736. Les Français, prenant par la mer, s'assurent la possession de la côte jusqu'à l'Araguary, tandis que les Portugais, prenant par l'intérieur, font des razzias d'Indiens jusqu'à l'Oyapock. - 1736. Les Portugais reconnaissent aux Français la libre pratique des terres litigieuses. - 1764. Construction du nouveau fort de Macapa par les Portugais. - 1777. Fondation par les Français, sur la rive gauche de la bouche Nord de l'Araguary, du poste de Vincent-Pinçon puis de la mission de Macari (1783) qui devait subsister jusqu'en 1794. -1780. Fondation de la mission de Counani qui devait subsister également jusqu'en 1794. - 1782. Le gouvernement français donne au géographe Simon Mentelle la mission de relever l'Araguary et de se rendre au rio Branco en suivant l'équateur, « afin de chercher à nos possessions une frontière scientifique ». Mais Mentelle ne put se rendre qu'au premier saut de l'Araguary. -1794. La guerre étant déclarée, les Français évacuent Vincent-Pinçon, Macari et Counani; les Portugais pillent la côte contestée, et établissent un poste sur la rive droite de l'Oyapock. - 1797. Traité du 20 août. La frontière est fixée au Corsevenne. Le Directoire ne ratifie pas le traité. - 6 juin 1801. Traité de Badajoz. La frontière suit l'Araguary, de la grande bouche aux sources, et des sources au rio Branco. - 29 septembre 1801. Traité de Madrid. La frontière suit le Carapanatuba, à quelques minutes au Nord de l'équateur, et va des sources de ce petit fleuve au rio Branco. - 25 mars 1802. Traité d'Amiens. On revient au traité de Badajoz : grande bouche de l'Araguary, Araguary, et des sources d'Araguary au rio Branco. - 1817. La Guyane, occupée depuis 1809 par les Portugais, est restituée à la France conformément austatu quo ante. Une commission mixte, qui ne se réunit pas, devait étudier sur place le différend. - 1836. Etablissement d'un poste militaire français à Mapa. - 1840. Le Brésil établit la colonie militaire de dom Pedro II sur la rive gauche de l'Araguary. -1840. Evacuation du poste de Mapa et convention de non-action politique réciproque des Français et des Brésiliens dans le contesté (1841). Contrairement à la convention précédente, les Brésiliens conservent la colonie militaire de Pedro II, de l'Araguary au Tartarongal, dans le territoire contesté. - 1860. Le gouvernement brésilien annexe (contrairement à la convention) le district d'Apurema, la plus riche région du contesté. - 1887. Jules Gros prend en France le titre de président de la République du territoire contesté qu'il nomme Guyane indépendante avec Counani pour capitale. -1890-1891. Une expédition militaire brésilienne s'empare du Mapa et y fonde la colonie « Ferreira Gomes ». - 1892. Une autre expédition brésilienne part d'Alemquer, sur les bords de l'Amazone, pour se rendre aux Tumuc-Humac à travers le contesté de l'intérieur.

Le contentieux franco-hollandais.

La délimitation de la frontière entre la Guyane française et la Guyane hollandaise a également eté l'objet d'un contentieux entre la France et les Pays Bas. Un premier arbitrage, tenté par le tsar Alexandre III en 1891 avait échoué. Les deux parties se sont finalement mises d'accord en 1905, en signant une concention par laquelle la France obtenait la possession du territoire contesté entre l'Itany et le Maroni (environ 250 000 hectares), ainsi que les îles de l'Awa et les îles les plus importantes du bas Maroni, grâce au partage du fleuve en biefs alternativement attribués à chaque Etat. 

Les bagnes de Guyane, plus nombreux qu’il n’y paraît


Où étaient les bagnes ? Qu’en reste-t-il aujourd’hui ? Quelles étaient leurs particularités ? Guyaweb a dressé une carte, non exhaustive, des nombreux bagnes de Guyane.


Car, si l’on pense aux Iles du Salut et au Camp de la Transportation à St-Laurent-du-Maroni, le bagne a essaimé des camps et des pénitenciers un peu partout en Guyane, pendant son siècle d’existence de 1852 à 1946.


De certains camps, il ne reste presque rien si ce n’est les archives qui permettent aux chercheurs d’en connaître l’histoire, pour d’autres d’importants vestiges sont encore debout, plus ou moins bien entretenus, d’autres encore ont disparu sous l’eau…

Carte figurant l'emplacement de certains bagnes de Guyane © Hélène Ferrarini / GUYAWEB
Carte figurant l’emplacement de certains bagnes de Guyane © Hélène Ferrarini / GUYAWEB


1. Cayenne





Une maison construite par l’Administration pénitentiaire rue Pasteur à Cayenne © Hélène Ferrarini


L’Administration pénitentiaire installe ses locaux à la pointe Buzaré. Il est souvent considéré comme le bagne le moins pénible de Guyane car beaucoup de bagnards y travaillent comme domestiques auprès de l’administration, des commerçants et de la bourgeoisie cayennaise. Pourtant les bagnards de Cayenne ont aussi mené de lourds travaux d’assainissement.


Ouvert de 1852 à 1946.

Il reste encore Pointe Buzaré quelques bâtiments construits par l’Administration pénitentiaire.


2. Ilet la Mère

Des bagnards y sont envoyés dès les premières années du bagne en Guyane.

Puis, cet îlot au large de Cayenne accueille les bagnards convalescents. Il y reste de nombreux vestiges du passage des forçats. Plusieurs prestateurs touristiques y mènent les visiteurs en pirogue de mer.


3. Montagne d’Argent

Ouvert dès 1852, il fait partie de ces camps fondés dans les années 1850, qui ferment leurs portes avant la fin du XIXème siècle. L’Administration pénitentiaire choisit alors de concentrer les bagnes dans l’Ouest de la Guyane, autour de St-Laurent-du-Maroni.

Il y reste de nombreux vestiges, envahis par la végétation.

Situé sur la commune de Ouanary, le site est très isolé et difficile d’accès. On s’y rend en pirogue de mer.


4. St-Georges

Le camp de St-Georges connaît la même trajectoire que celui de la Montagne d’Argent : ouvert en 1854, il ferme dix ans plus tard. Il comptait une distillerie, produisant 4000 litres de tafia (rượu mía) par mois.

Il reste aujourd’hui quelques rares fondations dans le bourg.


5. Ste-Marie

De ce camp qui se trouvait sur l’emplacement actuel du village de Cacao, il ne reste aujourd’hui plus rien. On sait qu’il accueillait des femmes bagnardes.


6. St-Augustin

Ce camp des débuts du bagne compte encore des vestiges perdus dans la végétation.

Des prestateurs touristiques de Cacao (Le Planeur Bleu, Quimbé Kio) organiseraient des sorties à la demande.

7. Crique Anguille

C’est LE bagne des Annamites. En tout cas, c’est celui que l’on appelle communément ainsi, en faisant référence aux condamnés politiques indochinois qui y furent envoyés. Mais ce n’est pas le seul camp des Annamites, car deux autres pénitenciers furent attribués à ces condamnés d’une lointaine colonie française alors en lutte pour l’indépendance.

Il y reste de nombreux vestiges : cellules, latrines, four, cheminée, tronçons de voie ferrée allant jusqu’à la crique Anguille, dont il porte officiellement le nom. C’était la voie d’accès au bagne à l’époque de son fonctionnement. Aujourd’hui, on s’y rend plutôt par la route. Situé sur la commune de Montsinéry-Tonnegrande, il fait l’objet de projets de réhabilitation.


8. Les Iles du Salut

Peut-être le plus connu, en tout cas le plus visité bagne de Guyane. C’est là que furent envoyés les tous premiers bagnards en 1852.

Les Iles sont au nombre de trois :

・ la plus importante l’Ile Royale fut investi dès le début par le bagne,

・ l’Ile St-Joseph ne compta dans un premier temps qu’une prison, puis des cellules y furent construites à la fin du XIXème siècle,

・ la plus petite, mais peut-être la plus connue en raison de Dreyfus, est l’Ile du Diable, qui n’accueillait que quelques condamnés politiques. Elle ne se visite pas.

Ouvert de 1852 à 1945.
Les installations du bagne y sont très nombreuses et en cours de rénovation.
Voir notre article de demain sur la mise en valeur touristique du bagne.
9. Kourou
En face des Iles du Salut, le pénitencier de Kourou est installé sur la pointe des Roches, sur l’actuel emplacement de l’Hôtel des Roches. Le bagne de Kourou est destiné à la production agricole, avec la production d’huile de coco et une porcherie. Des camps forestiers sont installés aux alentours, Pariacabo, Léandre, les Trois Carbets…Ouvert de 1952 à 1945.
Reste la “Tour Dreyfus” qui servait à communiquer avec les Iles du Salut, les ruines du four du bagne…
L’Ouest : les camps se multiplient autour de St-Laurent-du-Maroni
On compte une quinzaine de lieux de bagnes dans l’Ouest, nous n’en présentons pas la totalité.
10. Les Hattes
On y élève des boeufs dans les années 1860. Le camp est ensuite abandonné avant d’accueillir les malades incurables à partir de 1910.
Aujourd’hui sur la commune de Awala-Yalimapo, à la pointe des Hattes, il reste des ruines de bâtiments en briques.
11. Coswine
Un des camps forestiers de l’Ouest, il a été fondé pour exploiter du balada, une gomme-résine fournie par un arbre. L’exploitation bat son plein pendant quinze ans jusqu’à ce que les réserves de balata soient épuisées. On tente alors, comme c’est généralement le cas dans les camps forestiers de l’Ouest, une mise en valeur agricole après l’épuisement des ressources forestières.

Il reste des sous-bassements des logements de gardiens.


“Le camp de la mort”



12. Charvein

Le “camp de la mort”, “le camp des “Inco” : Charvein est resté dans la mémoire du bagne comme le pire des camps. Mais il est toujours simpliste d’associer une fonction unique à un camp. Charvein est d’abord un camp forestier, avec une scierie où une importante exploitation de bois est menée. Puis à partir de 1895, il devient le camp des “incorrigibles” où l’on envoie les forçats les plus insoumis. Cela cesse après 1925 et l’on y tente une mise en valeur agricole.


13. Godebert

Le camp est créé en 1909 pour finaliser la voie ferrée reliant St-Laurent-du-Maroni à Charvein.

A partir de 1918, une concession est donnée à un exploitant forestier privé, la Société forestière de la Guyane française. C’est la seule entreprise forestière privée sur le territoire de l’Administration pénitentiaire, qui lui confie officiellement deux cents bagnards pour exploiter à peu de frais la zone.


14. St-Laurent-du-Maroni

C’est la capitale du bagne. C’est là que les bagnards arrivent en bâteau, avant d’être répartis dans les différents camps de la colonie.

St-Laurent-du-Maroni dispose donc d’un riche patrimoine lié à l’histoire du bagne, avec tout un quartier et le vaste Camp de la Transportation.

Ouvert de 1858 à 1945.

15. St-Louis

A ne pas confondre avec l’Ilot St Louis qui se proximité mais sur le fleuve Maroni. Sur l’îlot, des bagnards atteints de la lèpre furent parqués à partir de 1895.

Au pénitencier St-Louis sur la rive, un cimetière de bagnards a été mis à jour en 2008 par des archéologues lors de fouilles préventives.


16. St-Jean

En 1887, la loi sur la relégation est votée : les récidivistes, même pour de petits délits, peuvent être condamnés à la relégation, c’est-à-dire l’envoi dans des colonies pénitentiaies. C’est à St-Jean que les relégués sont regroupés.

Aujourd’hui, les bâtiments du Camp de la Rélégation sont occupés par l’armée, mais l’associationMeki Wi Libi Na Wan y organise des visites quotidiennes. Les lieux sont restés en bon état.

Voir notre article de demain sur la mise en valeur touristique du bagne.


17. Camp des Malgaches


Des condamnés malgaches y sont envoyés pour construire des canaux afin d’assainir St-Laurent-Du-Maroni et ses alentours, en proie aux fièvres. Si des Malgaches y travaillent effectivement les premières années, ils sont ensuite rejoint par d’autres condamnés coloniaux, puis européens. Après les travaux d’assainissement, le camp devient un chantier forestier.

Il y reste un petit réseau de voies ferrées.


18. Sparouine

Ce camp ne reste ouvert que deux ans tellement les fièvres y déciment surveillants et bagnards, de 1866 à 1868.


19. La Forestière



Panneau commémoratif en souvenir des déportés vietnamiens © Michelle Hamblin


Sur la commune d’Apatou, le Camp de la Forestière est un des trois camps dit “des Annamites”, car ils accueillaient des condamnés politiques indochinois. D’ailleurs, en 2011, pour les 80 ans de ce bagne une plaque commémorative y a été installée : “les gens du Vietnam sont éternellement reconnaissants pour les héros anonymes, luttant pour l’indépendance de la Patrie, exilés à perpétuité et ayant perdu âme et corps en cette terre”.

Ouvert de 1931-1935.

Il y reste de nombreux vestiges, notamment des piliers en briques.
Englouti par l’eau
20. Saut-Tigre
C’est le troisième camp des Annamites, où des condamnés indochinois furent envoyés. Avec le barrage de Petit-Saut, les ruines sont désormais sous l’eau.
Ouvert de 1931-1938.
Informations recueillies auprès de :

-la DAC (Direction des Affaires culturelles),

-d’Arnauld Heuret qui mène un travail de recherche sur les Camps de l’Ouest guyanais, co-financé par la DAC et le Service du Patrimoine de St-Laurent-du-Maroni,

-du Service patrimoine de St-Laurent-du-Maroni,

-de l’association Meki Wi Libi Na Wan qui s’occupe du Camp de la Relégation à St-Jean-du-Maroni,

-du livre Bagnards de Marion Godfroy.

L'histoire des bagnards de Guyane recouvre un siècle d'histoire pénitentiaire. Un siècle de condamnations, de travaux forcés, de privations de liberté, de colonisation vouée à l'échec. Décidé par Napoléon III, renforcé par la IIIe République naissante, l'envoi aux bagnes de l' «enfer vert» a marqué la mémoire collective française. Leur dureté est devenue, paradoxalement, mythologie. Si le bagne fut officiellement supprimé en 1938, ce n'est qu'en 1953 que les derniers forçats rentrèrent en métropole. Pour ainsi dire, hier... Après leur avoir consacré un livre (Bagnards, Chêne, 2002), Marion Godfroy, jeune historienne de 26 ans à l'Ecole des hautes études en sciences sociales, poursuit une thèse sur le colonialisme sous l'Ancien Régime et continue un travail de recherche sur les bagnes de Guyane, cent cinquante ans après leur création. Elle nous raconte l'histoire de ces 70 000 détenus hors du commun. 
La loi du 30 mai 1854 crée officiellement les bagnes de Guyane, mais ce territoire d'Amérique avait déjà une bien mauvaise réputation...
Depuis que les Français y ont mis les pieds, en 1604, ils ont multiplié les tentatives de colonisation du territoire. Toutes ont échoué. Ainsi de la fameuse expédition de Kourou, en 1763, avec ses 15 000 colons, qui, arrivés en pleine saison des pluies, sont morts dans des conditions atroces. Dès lors, la Guyane acquiert une si mauvaise réputation que la Révolution y envoie quelques députés indésirables - Billaud-Varenne, Collot d'Herbois - et que, en 1798, on y envoie près de 300 prêtres réfractaires. Puis, dans les années 1840, on cherche à se débarrasser des bagnes portuaires de Brest, de Rochefort et de Toulon: situés au centre des villes, ils exercent une concurrence qui déplaît fortement à la société civile. Car les bagnards travaillent à vil prix et, parfois, très bien. Napoléon III, très anglophile, est impressionné par l'envoi de colons en terre australe et séduit par cette idée de rédemption par la culture de la terre, au-delà des mers. Toutes ces raisons expliquent le choix de la Guyane, qui, en outre, quelques années après l'abolition de l'esclavage, en 1848, manque sacrément de main-d'?uvre. 
Après un voyage parfois éprouvant, les premiers prisonniers débarquent dans un territoire où rien n'a été prévu pour eux.
En effet, on n'a rien organisé sur place. Les 5 000 Guyanais sont les premiers surpris par ces arrivées. La métropole et les colons s'affrontent et se méprisent mutuellement. Les bagnards doivent donc tout faire: défricher leur place d'armes, construire leurs abris... Et ce des îles du Salut, au large de Kourou, au fleuve le Maroni. Car il y a eu non pas un, mais une multiplicité de pénitenciers. Sauf à Cayenne. Le siège de l'autorité gouvernementale refuse en effet le bagne. La chambre de commerce de la ville le dit tout net: «Nous ne voulons pas de cette plaie chez nous!» Alors, on repousse les bagnards le plus loin possible, vers le nord. Ne seront implantées au sud que de petites entités, comme le pénitencier de la Comté, qui n'hébergent souvent qu'une poignée de condamnés, tandis que Cayenne se contente d'un dépôt accueillant les détenus ayant accompli leur peine. Cela n'est en rien comparable avec les 2 000 bagnards de Saint-Laurent-du-Maroni. Du jamais-vu, en France! On a créé de toutes pièces, là-bas, sur les rives du Maroni, une ville destinée aux détenus. Saint-Laurent restera d'ailleurs commune pénitentiaire jusqu'au lendemain de la Seconde Guerre mondiale.

Les transportés - plus de 50 000, en tout - sont ceux qui ont été condamnés en assises aux travaux forcés. Ils sont soumis à la règle du «doublage»: au terme de leur peine, ils sont tenus de résider dans la colonie pendant un temps égal à la durée de celle-ci. Ils sont alors dits «libérés», mais obligés de travailler sur place. Par ailleurs, ceux qui ont écopé plus de huit ans doivent rester à vie en Guyane. Or j'ai remarqué que, dans les premières années du bagne, les transportés étaient en général condamnés à des peines de cinq ans. Mais, par la suite, sous la IIIe République, les condamnations étant souvent supérieures à huit ans, il n'y a plus de retour possible. Insensiblement, ces peines de transportation sont donc devenues des condamnations à perpétuité, sans en porter le nom.


Ces hommes n'ont-ils pas été condamnés aux travaux forcés pour de simples larcins?
Non, pas forcément. Les transportés ont été condamnés en assises, c'est-à-dire pour des meurtres, des tentatives de meurtre ou encore des vols commis la nuit dans une maison fermée et habitée. Mais les vols de pain, auxquels vous faites allusion, correspondent, eux, à la loi de 1885 sur la relégation. Une loi qui a été votée à la quasi-unanimité des parlementaires, à l'exception notable de Clemenceau. En cette fin du XIXe siècle, la société a évolué; l'image des «classes laborieuses, classes dangereuses» s'est imposée. Le mendiant, le vagabond, devient quelqu'un d'inquiétant. Ainsi, on décide que tout délinquant qui a encouru quatre condamnations à l'emprisonnement en l'espace de dix ans peut être envoyé en Guyane. Ce sont les relégués. Ils seront quelque 16 000 à connaître ce sort.

Leur arrivée va entraîner d'importants problèmes de cohabitation. En France, à cette époque-là, la doctrine veut en effet qu'on sépare les condamnés des assises et les petits voleurs. Or ici, en Guyane, on fait le contraire: on rassemble deux populations pénales très différentes. D'où des conflits, des violences et des viols commis par les caïds sur les relégués. Car ces derniers sont en général beaucoup plus jeunes que les transportés, âgés en moyenne de 35 à 45 ans. Ils vont devenir leurs souffre-douleur, leurs «mômes» - c'est ainsi qu'on nommait les homosexuels - et sont tout autant méprisés par leurs gardiens. N'oublions pas qu'ils sont, par ailleurs, eux aussi, passibles du doublage. C'est tout de même affligeant: tandis que, pendant tout le XIXe siècle, on va réfléchir, en métropole, sur le type et les échelles de peines à infliger, on ne se penche pas une seconde sur le phénomène du bagne et de ses peines à perpétuité. L'idée de rédemption est bel et bien révolue! En fait, elle s'était éteinte dès que les premiers candidats au retour avaient demandé à revenir. On avait vu cela d'un très mauvais oeil: on craignait qu'ils ne créent des désordres dans les ports. Alors, on avait tout fait pour les retenir sur place, quitte à les condamner pour de nouveaux délits.


La présence de femmes au bagne ne témoigne-t-elle pas d'une certaine volonté de colonisation?


En effet, et on l'oublie souvent, il y a eu à peu près 1 000 femmes au bagne. Très vite, après la loi de 1854, on commence des campagnes de recrutement. Quand une femme est condamnée aux travaux forcés, elle a le choix entre purger sa peine en métropole ou partir pour la Guyane. On lui fait miroiter une vie de fermière; on lui dit qu'elle va pouvoir se marier, avoir des enfants et vivre libre à la campagne jusqu'à la fin de ses jours. Cependant, les femmes, méfiantes, sont peu nombreuses à adhérer à ce discours. Parmi elles, certaines vont effectivement se marier, mais elles seront rarement fermières... Elles vont plutôt travailler auprès des «engagistes» - les colons faisant appel aux services de bagnards - comme domestiques ou couturières. Beaucoup, par désespoir, vont commettre infanticides ou avortements. Elles ne veulent pas que la chair de leur chair grandisse dans ce milieu-là. En 1907, après la séparation des Eglises et de l'Etat, on arrête de les envoyer en Guyane. Faute de structures - elles étaient gardées par les s?urs des prisons - mais aussi parce que l'échec des visées colonialistes est patent.



La troisième catégorie de bagnards est celle des déportés - des politiques, donc. Cohabitent-ils avec les autres détenus?


Non. Théoriquement, ils n'ont aucun contact avec les transportés ou les relégués. En fait, ces condamnés politiques ne seront qu'une infime minorité - on en dénombre à peine une petite cinquantaine. Ils ont une vie à part sur les îles du Salut, s'occupent de leur jardinet. Dreyfus est le plus célèbre d'entre eux. Il séjourne d'abord, discrètement, sur l'île Royale, puis est transféré sur l'île du Diable, laquelle abritait autrefois une léproserie. Au grand dam du commandant de l'île, qui salue sa venue par ces mots: «Je préfère serrer la main de mes lépreux plutôt que celle de Dreyfus.» On l'installe sur cette petite île, car l'administration pénitentiaire vit dans la peur qu'on le fasse évader. Le voilà donc confiné, seul, dans une cellule entourée d'une haute palissade. Et, pour s'assurer que les gardiens font bien leur office, le commandant de l'île Royale s'amuse à envoyer des troupes de manière intempestive pour tester leur efficacité. Tenu complètement au secret, Dreyfus passe son temps à tracer des dessins géométriques sur des cahiers. Royale, l'autre île du Salut, est, elle, principalement réservée aux «meilleurs» des transportés, une espèce d'aristocratie des bagnards, car le climat insulaire est beaucoup plus agréable que celui du continent.


Tous les détenus ne viennent pas de France. L'Algérie et l'Indochine ont expédié eux aussi d'importants contingents de bagnards.


En effet. Souvent, ils ne comprennent pas pourquoi ils partent, ils ont été tout simplement désignés, sans autre forme de procès, comme responsables d'un crime commis dans leur village, en Algérie. Une fois en Guyane, ils ont un rapport à l'autorité totalement différent de celui des métropolitains. Quand ils subissent de mauvais traitements, ils s'évadent, non pour s'enfuir, mais pour se plaindre auprès du commandant du pénitencier. L'administration, qui joue sur leur confiance et sur le racisme latent parmi les condamnés, va leur proposer de devenir des indics et, en contrepartie, des «garde-clefs». Plus tard, à partir de 1930, quand les premières révoltes éclatent en Indochine, les Annamites vont connaître un sort similaire. Les révoltés passent devant des conseils de guerre qui les condamnent aux travaux forcés. On parquera tous ces activistes politiques ensemble, près de Cayenne.


Quelle est la journée type des forçats?


Ils sont réveillés à 5 heures, répondent à l'appel de 5 h 45, rangent leur case, puis travaillent de 6 à 10 heures: ils balaient les rues, enlèvent les mauvaises herbes, construisent des routes, vident les latrines; bref, ils s'occupent de l'entretien de la colonie. De 11 à 13 heures, ils bénéficient d'une pause, puis reprennent leur labeur jusqu'à 17 heures. A 20 heures, c'est l'extinction des feux. Le plus éprouvant n'est pas le travail, mais l'absence d'avenir, la solitude, la famille qui est loin. Ou encore, le cas échéant, la punition suprême, c'est-à-dire l'envoi dans un camp disciplinaire, comme celui de Charvein, surnommé «la Fatigante». On y est enchaîné, on effectue les travaux les plus pénibles dans la forêt, aux heures les plus chaudes, on est dévoré par les mouches. Et les rations alimentaires sont encore plus faibles que dans les autres camps. Le taux de mortalité y est incroyable. Chez les détenus comme chez les gardiens, d'ailleurs, dont l'affectation ici est vécue comme une punition.


Et la nuit?


La nuit, c'est la chasse gardée du prisonnier. Les surveillants ne rentrent plus dans les cases. C'est le royaume du caïdat, et on a intérêt à savoir qui dort à côté de soi. C'est là où on règle les comptes, où on sort ce que l'on a planqué, les couteaux sous les lattes, les petites lampes à huile... L'argent commence à circuler, pour acheter de quoi manger ou une sodomie chez le copain. L'homosexualité est si répandue que l'administration pénitentiaire marque sur les dossiers soit PA, pour pédéraste actif, soit PP, pour pédéraste passif. Le passif est souvent un jeune relégué. Mais, finalement, aussi curieux que cela paraisse, le plus atroce est non la vie dans le pénitencier, mais à l'extérieur. Une fois «libéré», le bagnard se retrouve dans la rue et doit assurer seul sa propre subsistance. Pour cela, il lui faut être «engagé». Sinon, il est considéré comme vagabond et tombe sous le coup d'une loi particulièrement dure, qui le renvoie à la case prison. Certains le souhaitent, d'ailleurs, tant il est difficile d'obtenir du travail. D'autres tenteront leur chance du côté des filons aurifères, découverts en 1855. Le chercheur d'or, c'est le grand mythe, évoqué déjà par Voltaire dans Candide et qui est toujours actuel.
Il n'en demeure pas moins que les forçats essaient de s'évader avec constance; 20% d'entre eux, selon vous...


Les tentatives d'évasion sont si fréquentes que, pour juger ces crimes, les tribunaux devraient siéger en permanence. Alors, afin d'éviter l'engorgement, on crée l' «absence illégale»: si, selon les lieux, on vous rattrape au bout de une, deux ou trois journées, vous n'êtes jugé que pour «absence illégale». La durée envisagée est intéressante, car elle est significative de l'évaluation de la réussite d'une évasion. Ainsi, elle est de trois jours à Saint-Laurent-du-Maroni, mais, si vous êtes dans un petit chantier de la forêt, on considère qu'au-delà de vingt-quatre heures le détenu s'est bel et bien fait la belle. On ne connaît pas les pourcentages de réussite. Car ne pas revenir peut aussi bien signifier la mort.


D'où est-il plus facile de s'évader?


En théorie, de partout, puisque vous n'avez pas vraiment de gardien. Il arrive parfois qu'on vous emmène sur un chantier télégraphique et qu'on vienne vous y rechercher le soir. Mais, dans la réalité, il faut construire un canot, trouver un barreur, savoir naviguer, tout payer, alors qu'on n'est pas censé posséder de l'argent. Bref, cela demande beaucoup d'organisation. Nombre d'évadés sont repris, grâce, notamment, aux nombreuses «bonnes volontés» motivées par les primes. Les gendarmes, les tribus de Noirs marrons - les anciens esclaves - tout le monde est sollicité. Après jugement, les récidivistes sont envoyés sur l'île Saint-Joseph, afin d'y purger leur peine d'enfermement. Car il est plus difficile de s'évader des îles. Certains s'y essaient pourtant.


Parmi tous ces évadés, y a-t-il une figure qui émerge?


Oui, celle du serrurier bordelais Bouyer Blaizy, matricule 16977. Arrivé au bagne dans les années 1870, il tente de s'évader immédiatement. Echoue. Puis multiplie les évasions. La plus fameuse a lieu en 1883 des îles du Salut, à bord d'une embarcation qu'il confectionne grâce à la complicité d'une sentinelle. Repris, il bénéficiera d'une certaine clémence des juges, assez admiratifs. Ces derniers ont, il est vrai, longtemps été des marins - les bagnes relevant, jusqu'en 1894, du ministère de la Marine et des Colonies. Certains magistrats allaient même jusqu'à remettre en question la loi, acquittant des détenus évadés pour échapper aux mauvais traitements. Les évasions, d'ailleurs, sont nécessaires. Tous les directeurs de prison le reconnaissent, elles constituent une soupape qui permet de diminuer la pression au sein des pénitenciers.
Est-ce bien Albert Londres qui, par ses écrits, en 1923, déclenche la première grande prise de conscience en métropole?


Oui et non. Dès la réforme des bagnes, qui date de 1889, on commence à débattre, au sein de commissions, de leur suppression. Petit à petit, l'idée chemine dans le monde politique. Mais ne nous leurrons pas: la véritable raison de leur fermeture, c'est leur coût. Le budget de l'administration pénitentiaire est d'un montant quatre fois supérieur à celui alloué au gouverneur de la colonie. Reste que c'est bien la grande enquête d'Albert Londres qui déclenche l'intérêt du public et agite les médias. Dès sa parution, en 1923, le reportage du journaliste dans Le Petit Parisien rencontre un succès spectaculaire, en raison, notamment, de la qualité des clichés de l'excellent photographe qui l'accompagnait et du choix de la publication sous forme de feuilleton: le lecteur a l'impression de le suivre pas à pas. L'enquête d'Albert Londres est très ancrée dans ces années 1920, qui voient émerger le journalisme d'investigation. D'autres vont lui emboîter le pas, comme Marius Larique, reporter pour la revue Détective, qui tient en haleine ses lecteurs avec l'histoire d'évadés dans une brousse habitée par des «Indiens sauvages» et les Noirs marrons. L'ouvrage Terre de bagne, de Charles Péan, officier de l'Armée du salut passionné par la cause, aura également un grand retentissement. Enfin, tous les avocats vont partir là-bas, tenter de rencontrer leurs clients. Mais ils feront chou blanc, car, depuis Albert Londres, l'administration se méfie et leur ferme les portes des pénitenciers.
Il faut attendre 1938 pour qu'un décret-loi supprime le bagne par extinction et 1953 pour voir les tout derniers détenus rentrer en métropole...


Cela prend beaucoup de temps, en effet. La France des années 1930 a d'autres sujets de préoccupation. C'est sous le gouvernement Daladier que, le 17 juin 1938, Gaston Monnerville, député de Guyane puis sous-secrétaire d'Etat aux Colonies, réussit, enfin, à faire admettre la suppression des bagnes. Mais, si l'on n'expédie plus personne en Guyane, les détenus présents continuent d'y purger leur peine. Dans des conditions qui vont devenir dramatiques pendant les années de guerre, les rations alimentaires étant plus maigres que jamais. Après 1945 se pose la question des retours. Mais comment payer la traversée? Le gouvernement se décharge sur Charles Péan et son Armée du salut. Cette dernière va s'occuper de l'organisation des voyages et tenter d'assurer des points de chute en France. Où s'installer, en effet, quand vous êtes parti depuis vingt ans? Que votre famille ne veut plus vous voir ou vous a fait passer pour mort? Certains détenus préfèrent d'ailleurs rester en Guyane, on les appellera par la suite les «Vieux Blancs».
Les bagnards seront mieux accueillis par la littérature et le cinéma, qui les transforment en véritables mythes...


Depuis François Vidocq, le bagnard - comme le galérien avant lui - est le héros populaire type. Il en réunit tous les ingrédients: le destin, les souffrances, les horreurs et la délivrance. Mais, après Jean Valjean, c'est Papillon qui donne son éclat au personnage. Henri Charrière a probablement songé à rédiger ses Mémoires au vu du succès de L'Astragale, le tragique roman autobiographique de la jeune Albertine Sarrazin, condamnée à vingt ans, évadée, recondamnée. Il réside alors à Caracas et commence à écrire en injectant dans son récit ce qu'il a retenu de la littérature populaire que son père, instituteur, lui a transmise. Puis il reprend toutes les légendes du bagne, qui circulent au sein des pénitenciers. Le livre - une décennie de vie, du crime dont Charrière est accusé à sa dernière belle - explose dès sa sortie, au printemps 1969. Un an tout juste après Mai 68, ce héros consensuel offre un répit autour de quelques valeurs simples. A la même époque, on projette à la télévision le Comte de Monte-Cristo, les aventures de Vidocq, de Chéri-Bibi, toute cette littérature populaire du XIXe siècle adaptée en feuilletons. Papillon, en outre, est un excellent vendeur. C'est un hâbleur. Le voilà avec Jacques Chancel. Il se contredit, parle de son innocence et écrit le contraire, travestit la réalité en inventant, par exemple, une falaise aux îles du Salut. Peu importe! Les «enzymes gloutons», auxquels les éditions Robert Laffont font référence dans leur campagne de publicité, engloutissent tout. 250 000 livres sont vendus dans les couches de la société les plus diverses, des instituteurs à François Mauriac, qui s'extasie dans son Bloc-Notes. Avec près de 2,5 millions d'exemplaires, Papillon est aujourd'hui l'un des plus gros best-sellers du XXe siècle...

Read more at http://www.lexpress.fr/region/c-eacute-tait-le-bagne_489768.html#yEDL4jqza4jOxWbl.99

525 nhà yêu nước Việt Nam Quốc Dân Đảng bỏ mình trên trại tù Guyane, Nam Mỹ
Tác giả: Nhà báo Danh Đức

Nguồn: tuvilyso.net








I. Nhà lao An Nam ở Guyane: 525 nhà ái quốc VNQDĐ




Năm 1931, sau khi khởi nghĩa Yên Bái thất bại, 525 tù nhân Việt Nam bị bắt đày đi Côn Đảo, sau đó bị đày biệt xứ sang Guyane thuộc Pháp và giam tại một trong những nhà lao ở Cayenne, gọi là nhà lao An Nam. Gần 80 năm qua, sự kiện đó dường như ít còn được mấy ai nhắc đến nữa.




Tại sao lại bỏ mình tại Nam Mỹ, nghe ra hơi vô lý nhưng đây là một sự thật được khai phá khi chính phủ Việt Nam mua phi thuyền không gian của hảng Lockheed của Mỷ và nhờ Pháp phóng tại Guyane ở Nam Mỹ, những phóng viên Việt Nam có cơ hội đến đó mới khám phá ra 525 nhà ái quốc của Việt Nam Quốc dân Đảng bị thực dân Pháp đày biệt xứ năm 1931, sau cuộc Tổng khởi Nghĩa Yên Bái ngày 10-02-1930 của Việt Nam Quốc Dân Đảng đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập cho dân tộc. Họ đã vĩnh viễn ra đi không trở về trên quê mẹ, họ bị quên lãng trong những người con ưu tú nhất của dân tộc. Những ai còn sống sót thì lập gia đình với người bản xứ và hiện nay có giòng giống Việt đang sống ở Guyane, Nam Mỹ.




Guyane, một tên thật xa lạ với người Việt, tiếng Pháp gọi là Guyane Francaise và tiếng Anh gọi là France Guiana, đây là một lãnh địa của Pháp duy nhất ở Nam Mỹ. Khởi đầu, Guyane là vùng đất sinh sống bởi thổ dân Nam Mỹ, thế kỷ thứ 17 người Pháp chiếm một giải đất hẹp nằm giữa Brazil và Suriname, 200 năm sau Napoleon III cần thiết xây dựng một nhà tù để chứa những tù nhân từ nước Pháp và các nước thuộc địa của Pháp. Thứ đến họ cần một số lao công để trám vào sự thiếu hụt nô lệ khi đạo luật nô lệ được chấm dứt ở Pháp năm 1848, do đó Pháp chiếm Guyane gọi là Guyane Francaise.




Từ năm 1852 đến 1946 có khoảng 70,000 tù nhân bị đưa tới Guyane làm tù khổ sai chung thân biệt xứ hằng ngày từ mờ sáng tinh mơ đến đêm tối họ phải cực nhọc vất vả đào vàng dưới sông sâu, chặt gỗ trong rừng sâu. Theo giáo sư Serge Mam Lam Fouck, Giáo sư tại ở Đại Học Antilles University in French Guiana lượng định có vào khoảng 25% đến 50% tù nhân chết vì bị bệnh sốt rét, vì đói, vì bị hành hung tàn bạo của cai tù.




Và 525 nhà ái quốc VNQDĐ đã bị Pháp đày khổ sai chung thân biệt xứ năm 1931 đến Guyane Nam Mỹ, sau khi Tổng Khởi Nghĩa 10-02-1930 thất bại.




Nhìn trên bản đồ chúng ta thấy France Guiana phía Bắc bao bọc bởi biển Atlantic, phiá Nam giáp ranh với Brazil, phía Tây giáp ranh với Suriname. Diện tích 83,534 km2 và dân số 209,000 người, thủ phủ tại Cayene, và có một dàn phóng phi thuyền của Pháp tại Kourou nằm sát bờ biển Atlantic, chính dàn phóng này đã phóng Phi thuyền Vinasat-1 cho Việt nam vừa rồi.







II. Nhà lao An Nam ở Guyane: Con cháu của những người tù biệt xứ.







Quang cảnh một nhà lao, (hình chụp còn cái sườn)
để nhốt những tù nhân biệt xứ tại Guyane, Nam Mỹ




Năm 1931, sau khi khởi nghĩa Yên Bái (của Việt Nam Quốc Dân Đảng) thất bại, 525 tù nhân Việt Nam bị bắt đày đi Côn Đảo, sau đó bị đày biệt xứ sang Guyane thuộc Pháp và giam tại một trong những nhà lao ở Cayenne, gọi là nhà lao An Nam. Gần 80 năm qua, sự kiện đó dường như ít còn được mấy ai nhắc đến nữa.




Từ khi lên kế hoạch sang Guyane để đưa tin sự kiện VN phóng vệ tin Vinasat-1, tôi (nhà báo Danh Đức) cứ ám ảnh làm sao tìm lại được con cháu của những người tù khổ sai đi đày ở đây từ năm 1931, sau khởi nghĩa Yên Bái. Những tưởng mọi chuyện không thể, vì gần 80 năm đã qua…








Những người Việt ở Guyane




Trong cơn mưa như trút nước, tôi đứng tại địa điểm quan sát dịch chuyển tên lửa Ariane-5 chở vệ tinh Vinasat-1 ra đến bãi phóng, bất chợt nghe ai đó hỏi bằng tiếng Pháp: "Ông là người Việt à?". Hóa ra là một nhân viên an ninh của Trung tâm không gian Kourou từ xa quan sát các nhà báo đang tác nghiệp. Đó là một người đàn ông đứng tuổi, da hơi ngăm đen, trong ánh mắt ông hiện lên nét mừng rỡ. "Đúng thế. Chào ông", tôi trả lời. "Tôi tên là Trân Van Cân", ông ta phát âm không dấu, song cũng phát âm được chữ "â”, "Cha tôi, ông nội tôi là người Việt. Tất cả đều tên là Trân Van Cân". Thật mừng rỡ! Một trong những "đối tượng tìm kiếm" của tôi đây rồi.




Và ông đưa tôi đi gặp những người Việt ấy. Họ sống rải rác ở Guyane. Họ tự giới thiệu là con cháu của những tù nhân biệt xứ năm xưa. Bác sĩ Kim, một bác sĩ chuyên khoa dạ dày - đường ruột, sinh sống ở Guyane từ tám năm qua, nồng hậu tiếp đón tôi trong nhà ông. Ông cho biết: "Ở đây có nhiều người mang họ tên Việt, song da thì đen và không nói được một từ tiếng Việt. Hỏi họ, họ chẳng nhớ gì về gốc gác Việt của mình. Họ là con cháu của các tù nhân thuở trước".




Bác Vũ, một chuyên gia nông nghiệp quốc tịch Pháp về hưu, sang Pháp cùng gia đình từ thời cụ Ngô Đình Diệm, sau này dọn sang Guyane, cũng nói: "Họ không biết nhiều về gốc gác Việt. Song cũng có một số người tết đến là đón Tết Việt". Ông Nghĩa, chủ một nhà hàng ở Kourou, kể: "Mỗi năm, chúng tôi đều tổ chức đón tết. Cũng có những người da đen họ Việt đến ăn tết cùng chúng tôi".







Hình anh Trần Văn Cân




Không chỉ có 525 tù nhân biệt xứ:




Đầu tháng 3-2008, lục lọi trên các website của Pháp tìm tài liệu chuẩn bị cho chuyến đi Guyane, bất ngờ tôi tìm được không ít tài liệu về việc có đến 525 tù nhân người Việt đi đày sang nhà lao Guyane năm 1931, sau khi khởi nghĩa Yên Bái thất bại trước đó một năm. G.Marchal, một nhà sử học Pháp, có lưu lại trên website của mình bức ảnh chụp tài liệu như sau: (bằng Pháp ngữ và được dịch ra dưới đây).

Tài liệu của nhà sử học Marchal về các tù nhân yêu nước Việt Nam


"Chủ nghĩa dân tộc và nổi dậy ở Đông Dương".
- Các nhóm cực đoan nổi lên tại các xứ bảo hộ của Pháp ở Đông Dương.
- Tháng hai, đồn binh Yên Bay nổi dậy, ném bom trong các phố phường Hà Nội. Cuộc thử sức đẫm máu này thất bại trong trứng nước và các nhà dân tộc chủ nghĩa bị bắt sau đó bị gửi ra Côn Đảo.
- Quan toàn quyền e sợ một cuộc nổi dậy mới, đã quyết định tống các phần tử khuynh đảo đến một vùng đất xa thẳm. Tháng 4-1931, 525 tù chính trị Đông Dương xuống tàu sang Cayenne".







Tôi gửi thư điện tử cho nhà sử học G. Marchal hỏi thăm về con số 525 tù chính trị Đông Dương này, một tháng sau nhận được câu trả lời vắn tắt: "Danh sách các tù nhân này hiện đang lưu tại văn khố ở Aix-en-Provence. Đường mòn đến nhà lao An Nam đã được san ủi và đánh dấu mũi tên". Chìm đắm trong mớ thông tin mới tìm ra về "hậu khởi nghĩa Yên Bái" và nhà lao Guyane, tôi cứ đinh ninh rằng những tù nhân biệt xứ VN đầu tiên sang Guyane là vào năm 1931, cho đến khi gặp ông Trần Văn Cân ở bãi phóng tên lửa Ariane:
- Ông năm nay bao nhiêu tuổi?

- Tôi sinh năm 1948.
- Có phải cha ông đã sang đây vào khoảng những năm 1930 không?
- Không, vì cha tôi sinh năm 1922 ở Guyane này. Ông nội tôi, cũng tên Trân Van Cân, phải đến đây trước đó. Đến lúc nào thì tôi không biết, chỉ biết rằng sau đó ông lấy bà nội tôi rồi sinh ra cha tôi năm 1922.
Chợt nhớ lại một tài liệu của Pháp ghi rằng vào cuối thế kỷ 19 đã có những tù chính trị người Việt bị đưa sang Guyane. Trần Văn Cân bằng xương, bằng thịt trước mặt tôi là con cháu của những người tù ái quốc người Việt đầu tiên đi đày biệt xứ ở Guyane này, từ cuối thế kỷ 19, trước cả khởi nghĩa Yên Bái. Nếu đúng như ông Cân nói, nhà lao An Nam đã "đón" tù nhân VN từ trước năm 1931, và ở đó sẽ không chỉ là mảnh đất khổ sai của 525 tù nhân người Việt.
Khởi nghĩa Yên Bái
Ngày 26-1-1930, tại Mỹ Xá (Nam Sách, Hải Dương), hội nghị đại biểu toàn quốc của Việt Nam Quốc Dân Đảng quyết định khởi nghĩa đồng loạt ở một số tỉnh Bắc kỳ vào đêm 9 rạng ngày 10-2-1930. Do quá trình chuẩn bị gặp nhiều trắc trở, Nguyễn Thái Học quyết định hoãn ngày khởi nghĩa đến 15-2. Nhưng ở nhiều địa phương, khởi nghĩa vẫn bắt đầu vào đêm 9 rạng 10-2. Nơi nổ súng đầu tiên và quyết liệt nhất là Yên Bái (do đó có tên gọi chung là khởi nghĩa Yên Bái).
Ở Yên Bái, Phú Thọ, nghĩa quân chiếm một số nơi nhưng không giữ được, ngay sáng 10-2 bị dập tắt. Ở Hà Nội chỉ kịp tạo ra một số vụ nổ bom ở sở cảnh sát, sở mật thám... Ở Kiến An, Hải Dương, mãi đến ngày 15-2 mới nổi dậy, chiếm được Vĩnh Bảo (Hải Dương) và Phụ Dực (Thái Bình), nhưng không đánh chiếm được Phả Lại, Hải Dương. Khởi nghĩa Yên Bái thất bại, những người lãnh đạo chủ chốt (Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Đoàn Trần Nghiệp...) bị bắt và bị tử hình ngày 17 tháng 6 năm 1930 tại Yên Báy.
III. Nhà lao An Nam ở Guyane: Những số phận lưu lạc.
Trong số 525 tù nhân người Việt bị đưa đi đày sang Guyane năm 1931 sau khởi nghĩa Yên Bái (Việt Nam Quốc Dân Đảng), ngoài những người bỏ mình trong thời gian bị giam giữ, còn có những người trong sổ ghi là được trả tự do, thậm chí có người ghi là được trả về VN như ông Vũ Văn Ninh





Dấu tích nhà tù của năm 1937 tại Guyane





Sở Văn Khố lưu trử Guyane - nơi lưu trử hồ sơ các tù nhân Việt Nam
Cũng như số tù nhân bị đi đày sang Guyane trước họ, từ cuối thế kỷ 19. Họ là ai? Số phận họ ra sao? Tôi tìm Sở văn khố lưu trữ tỉnh Guyane, những tài liệu ở đó của các nhà nghiên cứu người Pháp nói lên nhiều điều.
Khai hoang
Theo Danielle Donet-Vincent (Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp) trong "Nhà tù cho người Đông Dương tại Guyane" (Les bagnes des Indochinois en Guyane 1931-1963), tù nhân Đông Dương đến Cayenne (thủ phủ của Guyane) ngày 30-6-1931. Theo Daniel Ballof trong sách Hiện tượng đày biệt xứ tù nhân Đông Dương và các cơ sở lao tù (La deportation des Indochinois en Guyane et les etablissements penitentiaires), khi tàu cập bến có hai trường hợp tử vong trong chuyến hành trình dài 35 ngày. Ngay khi đến đó, có 30 tù nhân bị bệnh quai bị được phát hiện. Rồi các bệnh đường hô hấp, đường ruột khiến 137 người phải nhập viện, sáu người trong số họ không qua khỏi. Trong hai năm 1934-1936, 20 người đã chết vì bệnh, một số khác tự tử.
Cũng theo Danielle Donet-Vincent, nghị định ngày 18-9-1936 ấn định việc cấp đất rừng cho tù nhân mãn hạn khai hoang canh tác. Qua năm sau, bảy tù nhân trại Crique Anguille (Suối Lươn) được trả tự do, được giao đất để phá rừng canh tác. Bốn tù nhân khác của trại Saut Tigre (Cọp Vó) cũng được cấp rừng để khai hoang canh tác. Một người được cho phép làm việc trong các mỏ vàng của Công ty Société Nouvelle de Saint-Élie (Guyane ngày nay cũng đang khai thác vàng). Bốn người khác đi làm thuê cho các đồn điền (nông trường) và làm nghề đánh cá.



Posted Image
 
Hình trên là Hồ Sơ của những đảng viên VNQDĐ Vũ Văn Ninh, Vũ Tích, Vũ Quang Niệm
Tuy được trả tự do song họ bị hạn chế di chuyển, tạo ra tâm lý bi quan về chương trình cấp đất rừng để khai hoang canh tác. Tôi đọc thấy trên một tấm biển trong trại Crique Anguille thông điệp đại ý như sau: Chương trình cấp đất rừng khai hoang là để cho các tù nhân có cơ hội làm lụng sinh nhai sau khi mãn hạn tù. Họ hi vọng sẽ có ngày hồi hương với chút ít của cải dành dụm. Nhưng do không thấy ngày về nên sau này họ bỏ bê việc canh tác.
Danielle Donet-Vincent cho biết khi chính phủ Mặt Trận Bình Dân nắm quyền ở Pháp sau cuộc bầu cử năm 1936, 19 người được trả về nguyên quán. 19 trên tổng số gần 500 người còn lại là quá ít, khiến họ càng thêm thất vọng. Tuy vậy, trong thực tế đã chỉ có 15 người được về quê hương, qua ngả các cảng Saint-Nazaire và Marseilles của Pháp. Rồi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra. Tình hình quản lý tù tại Guyane có phần khó khăn nên đây cũng là giai đoạn các tù nhân mọi quốc tịch trốn trại nhiều nhất. Chính quyền Pháp quyết định giải thể các nhà tù hải ngoại bằng nghị định ngày 4-5-1944. Các tù nhân trước kia được phân tán trong ba trại Crique Anguille, Saut Tigre và La Forestière sau đó được tập trung về Le Bagne (nhà lao An Nam).
Khu người Đông Dương
Giám đốc Sở Văn khố lưu trữ tỉnh Guyane, ông Guyot, cho tôi biết: "Một số sau này ra trại, sống tập trung ở khu vực Saint-Laurent du Maroni, tạo thành khu gọi là Quartier chinois (khu người Hoa) mà thật ra là rút ngắn từ cụm từ quartier Indochinois nghĩa là khu người Đông Dương. Họ trồng trọt, chăn nuôi, trồng lúa... Họ lập gia đình với người bản xứ, thường là người da đen hay người lai. Lần hồi, khu người Đông Dương bị pha trộn dòng máu, không còn "nguyên thủy" nữa. Con cháu họ cứ mang tên họ cha ông mà không nhớ gì về cha ông. Hiện tại trong hội đồng thành phố có một người mang họ Việt".
Danielle Donet-Vincent viết về một đặc điểm của những người tù Đông Dương sau khi ra trại như sau: "Tại Guyane ngày nay, các phương pháp đánh cá của tù nhân Đông Dương vẫn còn được sử dụng".
Rồi thì tất cả cũng qua đời. Theo tác giả nêu trên, người tù của chuyến tàu năm 1931 cuối cùng sống cho đến đầu năm 2000. Sau khi ra tù, ông làm lụng vất vả trong các mỏ vàng và nhận Guyane là quê hương thứ hai.
Năm 2006, các đài truyền hình ARTE - RFO và France 3 của Pháp có chiếu một bộ phim tư liệu tựa đề là Bóng tối của ngục tù (Les ombres du bagne) của Patrick Barberis và Tancrède Ramonet. Bộ phim nói về các trại tù ở Guyane qua số phận bốn tù nhân tên là Charles Hut (người Bỉ), René Belbenoit (người Pháp), Jassek Baron (người Ba Lan gốc Do Thái) và Tran Khac Man (người Việt). Đây có thể là tù nhân cuối cùng còn sống sót ở Guyane mà Danielle Donet-Vincent đã nêu ở trên.
Bác Đinh Vũ, một chuyên viên nông nghiệp của Pháp sang Guyane sau khi về hưu, nói với tôi: "Có lẽ người Việt thuần túy ở Guyane là những người mới đến, còn con cháu các cụ thì dù mang họ tên Việt nhưng không còn nhớ nhiều về tổ tiên". Chủ nhật, chúng tôi lên chợ Cacao. Một chị tuổi xấp xỉ 60 lặng lẽ bán bánh cuốn cho chúng tôi. Chợt nghe chị nói tiếng Việt với một ai đó, mới hay chị cũng là người Việt. Hỏi chuyện, chị cho biết chị từ Hà Nội sang Lào năm 1954, rồi sang Pháp, rồi sang đây phụ bán cho cô em vài tháng. Gần chợ có một ông thầy dạy võ Việt cổ truyền, miệng hô "Dam thang. Dam vong" không bỏ dấu cho nhóm trẻ ngoại quốc, nghe cũng ấm lòng khi thấy có VN ở nơi xa xôi này.
Quả là những số phận lưu lạc!
IV. Nhà lao An Nam ở Guyane: Đường vào nhà lao.



Tấm ảnh ghi Nhà Lao An Nam, ở gần bìa rừng lối vào nhà lao

Bác sĩ Kim và bác sĩ Danh, hai bác sĩ Việt kiều Pháp tại Guyane, là hai người đồng hành quí báu của tôi. Từ cả tháng trước, qua liên lạc thư điện tử, tôi đã hỏi thăm bạn bè ở Guyane về địa danh nhà lao An Nam (Danh Đức)
Bác sĩ Hi, tháng 11-2007 còn sinh sống tại Guyane trước khi dời sang đảo La Réunion tận châu Phi, đã giới thiệu tôi cho bác sĩ Kim và dặn dò: "Hãy đến thăm nhà lao An Nam và viết bài cho dân VN biết".
Bác sĩ Kim cho biết ông có nghe nói đến nhà lao song chưa đi đến đó, ông nhắc: "Làm sao đưa hài cốt các cụ về nước". Sau đó, ông liên lạc với bác sĩ Danh (sang Pháp năm 1990 làm thực tập bác sĩ nội trú) và trả lời với tôi: "Anh Danh đã từng đi đến nhà lao An Nam rồi, nên sẽ dẫn đường cho chúng ta".
Giữa rừng già:
Suốt từ trưa 16-4 đến sáng 18-4, trời mưa tầm tã không ngớt trên khắp Guyane. Bác sĩ Kim bảo: "Mưa này không tài nào vô rừng đến nhà lao được". Đến tối 18-4, tên lửa Ariane chở vệ tinh Vinasat-1 phóng lên không gian trong bầu trời trong vắt, chả bù với sáng hôm trước phải di chuyển vệ tinh ra bãi phóng trong cơn mưa tầm tã. Vụ phóng vừa được loan báo thành công, mọi người từ phòng chỉ huy của trung tâm không gian xuống đất, chưa kịp nâng ly rượu mừng trời đã lại mưa. Trong bụng chúng tôi lại thầm lo. Kim bảo: "Điệu này thua rồi". Nào ngờ, trên suốt con đường về lại Cayenne thấy thật khô ráo, chẳng thấy một giọt mưa.
Sáng 19-4 cũng thế, không hẳn là trời quang mây tạnh, song không có gì đe dọa rằng sẽ có mưa. 10 giờ, bác sĩ Danh đưa chúng tôi đi trên chiếc xe Peugeot phục chế của anh: "Đi xe này các anh ạ. Chú đi xe BMW của anh Kim, đến đó bỏ xe ngoài đường, tránh bị kẻ xấu lấy mất xe giữa rừng". Trước đó, lúc 8 giờ, trời còn mưa vài hạt. Giờ thì trời quang mây tạnh trên con đường từ Cayenne đi Kourou.
Đường vào nhà lao An Nam là một con đường mòn giữa rừng già Amazon, tại một khu vực mang tên Montsinéry - Tonnégrande. Montsinéry là tên của một làng ở bìa rừng, còn Tonnégrande là tên của một dòng sông, nghĩa là "sấm to, sét lớn". Đến ngã ba Montsinéry cách Cayenne 30km thì quẹo trái. Chạy được 3km, qua hai cái cầu thì đến lối vào nhà lao.
Phải loay hoay tìm tới tìm lui mới tìm ra lối vào nhà lao An Nam. Một tấm bảng chữ được chữ mất "Bagne des Anamites" ở gần cửa rừng. Ai đó ghi thêm "45 phút đi bộ", bên cạnh một tấm bảng khác ghi "Propriété privée. Defense dentrer", xác định đây là "tài sản tư nhân, cấm vào". Nghĩa là giữa cánh rừng già bao la, nhà lao này thuộc về một ai đó và ai đó ra lệnh cấm vào. Nhưng đã vượt cả nửa vòng trái đất qua đây rồi, không ai ngăn được chúng tôi vai đeo balô, tay cầm gậy và mã tấu mà xông vào rừng. Rừng già Amazon là đây. Nhà lao An Nam là đây. Ráng lội bộ vào thôi.



Một phần nền nhà còn sót lại của nhà lao An Nam
Từ cửa rừng đi vào là những bãi sình lầy lội. Muốn di chuyển cho dễ phải tránh đi vào giữa đường mòn bùn sình nhão nhoẹt, mà đi sát vào ven đường. May là hôm nay không mưa nên bùn không qua mắt cá chân.
Sau những bãi sình còn có thể lội qua được là những đoạn sình lầy nhất được phủ bằng những thanh gỗ ngang khoảng 60cm, như một con đường bằng gỗ. Càng vào sâu đường mòn càng hẹp lại. Có những đoạn trên nền cát và đất không sình lầy nên bước chân không vất vả.
Thỉnh thoảng một thân cây to trốc gốc vắt ngang đường, những cành cây nằm ngang mặt đường tạo thành một mạng lưới chằng chịt. Bác sĩ Danh dùng mã tấu chặt những cành nhỏ dọn đường cho tôi leo qua dễ dàng hơn. Con đường thoai thoải xuống dốc. Đi mãi, hơn một giờ rưỡi thấy một tấm bảng chỉ dẫn vẽ bản đồ nhà lao, khu vực nhà lao nay còn được gọi là La crique danguille (suối Lươn). Danh cho biết người ta hay gọi đây là những con lươn điện (anguilles electriques) có thể phóng ra những tia điện lên đến 700volt. Rẽ trái chúng ta sẽ đến khu vực nhà lao. Chẳng còn gì ngoài dãy chuồng cọp bằng bêtông từng nhốt các tù nhân VN bất khuất.
Khu vực nhà lao An Nam xuất hiện trước chúng tôi bằng một hiện vật khá bất ngờ: hai hố xí (cầu tiêu) bằng ximăng xây cao khoảng 1m, không có vách, "trần truồng" để lính canh có thể quan sát xem tù nhân đang làm gì, có giấu giếm gì không, có mưu đồ gì không... Gần đó là hai dãy "chuồng cọp". Mỗi bên 16 cái, mỗi "chuồng cọp" kích thước 1x2m, cao 2m. Trên trần là song sắt, không có mái che, để lính canh có thể đi bộ phía trên mà quan sát tù nhân. Quang cảnh lạnh lẽo thê lương, nhất là trong một buổi trưa trời muốn mưa giữa rừng già.

Posted Image 

Dãy nhà lao của những nhà ái quốc Việt Nam



Cầu tiêu của những tù nhân

Posted Image 
Chuồng cọp - nơi giam giữ những nhà ái quốc VNQDĐ
V. Nhà lao An Nam ở Guyane: Hương Khói Giữa Rừng Amazon
Sau khởi nghĩa Yên Bái, có 525 người Việt bị bắt và đưa đi đày ở Côn Đảo, sau đó họ bị đưa sang tận Guyane. Đó là lý do giải thích trong truyện Papillon, người tù khổ sai, Henri Charrière có nhắc đến các bạn tù Đông Dương của mình tên là Chang và Văn Huê cùng các tù nhân An Nam khác.
"- Anh là bạn thân của Chang à?
- Phải, anh ấy báo tôi đến kiếm Quých - Quých để cùng vượt ngục với nhau. Tôi đã có lần vượt ngục đi rất xa, đến tận Colombia. Tôi đi biển giỏi lắm, vì vậy Chang muốn tôi đưa anh của anh ấy đi. Anh ấy tin tôi.
- Tốt lắm. Chang xăm những gì trên người?
- Ở ngực, một con rồng; bàn tay trái, ba dấu chấm. Anh nói ba cái dấu đó chỉ rõ anh ấy là một trong các thủ lĩnh cầm đầu cuộc nổi loạn ở Côn Đảo. Người bạn thân nhất của anh ấy cũng là một người chỉ huy cuộc nổi loạn, anh này tên là Văn Huê, anh này bị cụt một tay".
(Trích Papillon - người tù khổ sai)

Posted Image 
Thắp hương cho các nhà ái quốc VNQDĐ đã bỏ mình nơi xứ người
Chúng ta chia nhau thắp hương từng chuồng cọp. Chắc đã từng có tù nhân qua đời trong các chuồng cọp này", tôi nói và mọi người đồng ý ngay. Tôi lấy từ trong balô bó nhang Bắc chia cho các bạn đồng hành. Các chiến sĩ tham gia khởi nghĩa Yên Bái phần lớn là người Bắc nên tôi mang nhang Bắc sang. "Cắm nhang vào các bản lề ở cửa dãy này"
Bác sĩ Kim bảo: Gần 80 năm rồi, mục nát hết, chỉ những bản lề bằng sắt này còn lại. Các cánh cửa đâu mất hay là người ta đã tháo gỡ đi, chỉ còn trơ lại các bản lề to tướng này? Nhà lao An Nam đã bị đóng cửa từ năm 1945. Vào thời điểm đó, xứ Guyane còn thưa thớt, hoang sơ, những cánh cửa bằng sắt đó có thể đã bị gỡ để dùng vào việc khác. Trong 'chuồng cọp' thứ ba bên trái còn sót lại những tấm ván mục mà trước đây là 'giường' cho các tù nhân ngủ.
"Theo bài báo cáo của một Việt kiều lâu năm ở Guyane mà tôi từng được nghe ở một hội nghị, trong nhà lao có một nghĩa địa chôn các tù nhân qua đời, song lâu quá cỏ mọc đầy nên mất dấu luôn", bác sĩ Danh nói.

Posted Image 
Sàn nhà của chuồng cọp còn sót lại đã mục nát theo thời gian
Tôi lấy từ trong balô ra cái lư hương mang từ quê nhà sang. Hôm nọ, qua đến nơi lấy ra từ vali, tuột tay nên lư hương rơi xuống đất vỡ thành chục mảnh. Sáng nay 6 giờ thức dậy lấy băng keo dán lại. Tôi lấy nhang cắm vào lư hương. Khói hương nghi ngút từ cửa "chuồng cọp", mỗi "chuồng cọp" ba cây nhang. Trong chốc lát, cả khu vực "chuồng cọp" trở nên ấm cúng hẳn. Mùi nhang Bắc xông lên thơm phức đánh bạt cái mùi ngai ngái của lá cây mục, thật ấm áp, xua đi cái lạnh lẽo của rừng già và sự lãng quên suốt gần thế kỷ qua.
Lúc nãy trên đường vào nhà lao, chúng tôi gặp hai người đàn ông Tây phóng xe từ bên trong đi ra. Một người quốc tịch Ireland, tên John McLellan, sống và làm việc ở Paris, rôm rả trò chuyện với chúng tôi. Người kia quốc tịch Tây Ban Nha; không nói được tiếng Pháp nên không tham gia câu chuyện. "Các anh vào thăm đồng hương của các anh là đúng lắm đấy. Tôi làm việc trong thế giới nhà tù nên hiểu thế nào là lao tù”, ông John McLellan bảo như thế trước khi chia tay.
Quả thật, nếu không có chuyến đi Guyane để đưa tin về phóng vệ tinh Vinasat-1, có lẽ chẳng bao giờ tôi lục lọi trên Internet để phát hiện ra có một nhà lao An Nam ở xứ Guyane này đã từng là nơi giam cầm 525 tù nhân ái quốc Việt Nam và hầu hết đã bỏ xương nơi đất khách quê người trong cô độc.
Từ trong balô tôi lôi ra chai rượu nếp mới Hà Nội mang từ quê nhà sang, rót vào ba cái chung cùng một bộ với lư hương. Tất cả chúng tôi chỉ biết khấn thầm trong lòng: "Các cụ sống khôn chết thiêng, xin về nhấm chút rượu thành kính con cháu mang sang kính các cụ”.
Cả một trại tù năm xưa nay chỉ còn lại hai dãy chuồng cọp và vài mảnh vụn của các nền nhà cùng mấy cái hố xí! Thế còn các cựu tù nhân đâu, các cụ đang nằm ở nơi nào?

Posted Image 
C
ảnh hành quyết dã man chặt đầu bằng máy chém
như xử tử 13 liệt sĩ Yên Bái.
Danh Đức

1
Les vestiges du camp de Crique Anguille (mars 2006)
Mars 2006 : Les vestiges du camp de Crique Anguille, affecté aux détenus indochinois, sont aujourd’hui perdus au cœur de la forêt guyanaise. On distingue sur ce cliché des cellules de réclusion, bâties sur le modèle des cellules de l’île Saint-Joseph.


Crédit photo : Thomas Sagnimorte www.sagnimorte.info
En Indochine, l’indépendance en marche


2Des condamnés issus des colonies françaises d’Extrême Orient avaient été envoyés en Guyane dès la fin du XIXe siècle : 997 hommes avaient été extraits d’Indochine de 1885 à 1922, pour être envoyés dans notre colonie sud-américaine. Ces hommes étaient-ils des condamnés de droit commun ou des condamnés politiques ? A notre connaissance, aucune étude spécifique n’a été faite sur ce sujet. A peine conservait-on, en Guyane, le souvenir de l’origine de ces condamnés en nommant « village chinois » le secteur de Saint-Laurent où un grand nombre d’entre eux, libérés astreints à résidence, survivaient du produit de leur lopin de terre.

Nous savons, par ailleurs

, que l’opposition à la présence française en Extrême-Orient avait conduit l’autorité coloniale à prendre des mesures particulières. Un arrêté du 10 janvier 1913, complété par un arrêté du 11 janvier 1915, avait décidé que les « indigènes » dont le transfert hors de l’Indochine n’était pas décidé, purgeraient leur peine de déportation au pénitencier de Poulo-Condor. La déportation, il faut le rappeler, était la sanction appliquée aux condamnés d’opinion. Poulo-Condor, pour sa part, est une île située à environ cent kilomètres à l’est de la Cochinchine, au sud de Saïgon (aujourd’hui Côn-Dao, rattaché au Viêt-Nam du Sud), où un pénitencier avait été créé. Le régime général des détenus y fut fixé essentiellement par un texte de 1916 dont la sévérité, jointe aux abus et trafics du personnel, engendra des révoltes violentes, suivies de répressions plus violentes encore, à l’issue desquelles 437 condamnés avaient été extraits de ce camp et envoyés en Guyane en 1922.


3La crise économique mondiale des années 1925 vivifia le mouvement d’indépendance de l’Indochine et augmenta la population pénale dans les camps et prisons de la Colonie. Les autorités locales redoutaient, dans les établissements pénitentiaires, la cohabitation des condamnés d’opinion et des « droit commun » ; elles demandèrent à Paris de trouver un moyen afin de « débarrasser le territoire indochinois d’individus susceptibles de prendre part, sous l’action de meneurs [les condamnés d’opinion] à des rébellions ».


4De son côté, la Guyane réclamait sans cesse de nouveaux bras pour « développer » le territoire colonial. Cet objectif, autrefois mis en avant par les fondateurs des « bagnes » guyanais, avait gardé toute son actualité dans le discours politique : « L’Arabe et l’Asiatique résistent au climat (...). Pour le développement de la Guyane, l’Asiatique et le Malgache sont plus intéressants que l’Arabe ; ils sont plus résistants au climat, plus travailleurs, plus sobres ; c’est donc cet élément qu’il serait souhaitable de voir importer » écrivait le Gouverneur Siadous en 1929. L’idée, en termes tout à fait similaires, avait été exprimée par son prédécesseur Chanel, « l’homme lige de Paris », selon l’expression de Rodolphe Alexandre, spécialiste de l’histoire politique de la Guyane du XXe siècle. Varenne, en charge de l’Indochine à la même époque, s’était dit favorable à la reprise des convois vers le continent Sud-Américain à condition que la Guyane en finançât le coût. La démarche générale, comme le lexique employé, nous éclaire grandement sur le regard que les autorités d’alors portaient sur les peuples colonisés et sur les condamnés.


5Sur la pression conjointe de Cayenne et de Saïgon, Paris dépêcha, en janvier 1930, une commission d’inspection en Indochine afin de voir quels condamnés pouvaient être transférés en Guyane. De nouveaux « incidents » éclatèrent au pénitencier de Lao-Bao, sensiblement au même moment et précipitèrent les conclusions de cette commission ; l’envoi des condamnés asiatiques en Guyane, ou en Afrique Equatoriale Française, fut déclaré mesure « humanitaire » en raison de la surpopulation pénale, et nécessaire sur le plan politique afin d’éviter la propagation des idées d’indépendance. Pour sa part, le Gouverneur général de l’Indochine demandait le transport d’urgence des condamnés politiques vers les Iles du Salut.


6L’ensemble de ces interventions se déroulait sur fond de vive et durable campagne publique contre le « bagne » de Guyane. Le reportage d’Albert Londres, paru en 1923, avait fait grand bruit ; il avait demandé une refonte de l’institution avec la suppression du doublage (obligation à résidence un temps égal à celui de la peine, celle-ci achevée) et une humanisation des pratiques ; l’Armée du Salut, de son côté, après une enquête effectuée en 1928, faisait campagne pour l’abolition pure et simple du système, soutenue par de grands noms de la Justice, dont Paul Matter, premier président de la Cour de Cassation, et un jeune avocat guyanais, Gaston Monnerville. Sous la pression de l’opinion publique, la classe politique restait sur le qui-vive et ne ménageait pas les déclarations, se disant favorable à une amélioration avant, à long terme, une éventuelle disparition de ce que chacun appelait le « bagne ».


7Avec la question des condamnés asiatiques, cette campagne trouva un renfort du côté des parlementaires et de la Ligue des Droits de l’Homme.


8Le 22 mai 1930, une importante manifestation d’Indochinois et de membres de la Ligue se déroula à Paris, en protestation contre les moyens de coercition mis en œuvre en Indochine, où des villages avaient été bombardés. Par ailleurs, le 6 juin, le territoire de l’Inini était créé en Guyane. Cet espace administratif nouveau visait à soustraire une large part de la Guyane à l’influence de l’Administration pénitentiaire, et surtout à celle des élus Guyanais, pour la placer sous la seule direction de Paris, par l’intermédiaire du Gouverneur. Le Ministère des Colonies déclara immédiatement vouloir mettre en place, sur ces terres qu’il souhaitait mettre en valeur, des camps destinés aux seuls Indochinois : ce processus, écrivait-il à Cayenne, « facilitera opportunément [la] tâche à entreprendre dans [le] territoire autonome [de l’] Inini que [je] viens [de] créer pour assurer [le] développement [de l’]hinterland [de] Guyane : [les] indochinois fourniront [une] utile main d’œuvre pour [l’] équipement [du] pays [...] [j’] envisage [la] création [d’un] établissement pénitentiaire spécial pour [les] indochinois dans l’Inini ». Le 13 juin, le vote du budget des colonies à la Chambre vit l’intervention remarquée de la gauche qui s’éleva contre la répression générale menée en Indochine, contre la transportation prévue des Indochinois en Guyane et, plus spécifiquement, contre l’emploi de condamnés politiques à des travaux de colonisation. Ces controverses replaçaient la question du « bagne » au cœur du débat sur la politique coloniale, domaine dans lequel la Ligue des Droits de l’Homme était très active.


9Devant ces mouvements, le Ministère des Colonies sembla reculer et refusa à Saïgon la déportation de ses politiques aux îles du Salut. Cependant, indiquait Paris, « les individus condamnés [ à une] peine [de] droit commun, c’est à dire mort, travaux forcés, réclusion, dégradation civique [devaient] être considérés comme [des] détenus de droit commun », quel que soit le motif de la condamnation. Les listes de prisonniers répondant à ces critères, et qui furent envoyés en Guyane, montrent que nombre d’entre eux avaient bien été condamnés pour « complot contre l’Etat », c’est à dire pour des faits politiques. Afin d’éviter de plus amples manifestations de la gauche, et d’apaiser la Ligue toujours attentive, Paris sut rappeler les textes de loi autorisant l’envoi hors de leurs pays d’origine des condamnés du Cambodge, de l’Annam, du Tonkin. Est-il utile de dire que les textes en question avaient été élaborés par la France colonisatrice, dès 1890, et avaient déjà servi de base à l’envoi de ressortissants asiatiques en Guyane ? De plus, par une mesure d’exception à souligner, Paris décida que les hommes ayant participé aux mouvements nationalistes de Yan-Bay, en février 1930, seraient également envoyés en Guyane. « Il est donc possible, écrivait le Ministre des Colonies au responsable de L’Indochine, en vertu de [ces] textes, de créer dans l’Inini des établissements spéciaux aux condamnés d’origine annamite, complètement indépendants de l’Administration pénitentiaire ».


10Comme lors de la mise en place de la transportation, en 1852, le développement de la Guyane était présenté comme l’objectif essentiel. Le percement de routes et pistes nouvelles, l’aménagement de centres de colonisation sur les terres hautes par ces nouveaux condamnés étaient annoncés. L’éducation « morale »des hommes était également inscrite au programme, l’objectif étant, selon les Colonies, de les conduire, leur peine achevée, à demeurer en Guyane et à mener « une vie normale ». Les pouvoirs publics des années 1930 tenaient le même discours que les autorités des années 1852/1854.


11Le 27 octobre 1930, le Gouverneur général de l’Indochine pouvait annoncer les conclusions de cette gestation politico-pénale à l’ensemble des responsables territoriaux : « Les condamnés dont l’éloignement de l’Indochine s’impose, seront envoyés dans ces pénitenciers de l’hinterland guyanais », qu’ils soient condamnés aux travaux forcés par des tribunaux français ou indigènes.


12Le texte fondateur de ces camps spéciaux fut signé le 22 janvier 1931 [parution au Journal Officiel, Lois et Décrets, le 31 janvier ]. Paris, redoutant de nouvelles agitations parlementaires, insistait auprès de Saïgon afin que les politiques, c’est à dire les hommes condamnés à la déportation, soient écartés du processus. Pourtant, personne n’était dupe. Le Général de division Billotte, commandant supérieur des troupes en Indochine, lui-même, écrivait à propos du personnel de surveillance désigné pour l’encadrement

du convoi : « il [le personnel] sera chargé d’assurer le maintien et le bon ordre à bord du vapeur La Martinière qui transportera un convoi de condamnés politiques de Poulo-Condor à Cayenne (...) ».


13Saïgon et Paris souhaitaient le transport de plus de 1 400 condamnés. Malgré la diligence déployée, et en raison de la vigilance de la gauche parlementaire, les autorités locales ne purent rassembler que 535 individus répondant aux critères imposés par Paris. Les Colonies, tout au projet de développement de l’Inini, insistaient : « Le Ministre [...] insiste, écrivait le Gouverneurgénéral de l’Indochine aux responsables locaux, [...] afin que [le] premier convoi nécessaire pour expérience [dans] l’Inini, soit complété à 700 [...]. Vous prie faire tous efforts possible pour donner satisfaction [au] Département. Pourriez-vous rechercher [dans] toutes [les] prisons tous [les] condamnés susceptibles [de] transportation ». [lettre du 27 avril 1931]. Cependant, les 700 hommes ne furent pas trouvés.


14L’Indochine et la Guyane se disputèrent longuement pour savoir laquelle des deux colonies devait assumer les dépenses de l’opération. Le transport et l’entretien des hommes incombèrent finalement à l’Indochine.


15En raison des manifestations nationalistes récurrentes et de l’évidente structuration du mouvement d’indépendance, Paris et Saïgon redoutaient un attentat visant à empêcher le départ du La Martinière, bâtiment chargé du transport vers la Guyane. Les mesures entourant l’embarquement furent très sévères, le personnel surveillé, la prise de clichés interdite, l’accès au navire restreint. Le premier et seul convoi pour l’Inini quitta Saïgon le 17 mai 1931, sans incident.


16Quelques aménagements alimentaires exceptés, les conditions de vie à bord furent celles connues par tous les individus transportés en Guyane. Trois hommes moururent pendant le voyage.


17Le nombre de condamnés étant inférieur à ce que le contrat avait prévu, la Compagnie Nantaise, propriétaire du La Martinière, menaça d’un procès le ministère des Colonies. Elle empocha finalement le paiement initialement prévu pour deux convois de 700 hommes chacun, si bien que le Gouverneur général de l’Indochine, non sans amertume, pouvait constater que l’opération ainsi réalisée était « excessivement onéreuse pour les finances [de la Colonie] et (avait perdu) tout intérêt pour l’Indochine », les condamnés à la déportation ayant été exclus.
Punir ou coloniser ?


18Le convoi parvint à Cayenne le 30 juin 1931.


19Les hommes furent conduits par camion jusqu’au dépôt central, tenus à l’écart des condamnés venus de France et d’Afrique du Nord. En juillet, une partie du groupe fut dirigé vers Saint-Laurent du Maroni ; les Indochinois y furent séparés du reste de la population pénale.


20Trente cas d’oreillon se déclarèrent dès l’arrivée du convoi. Bientôt apparurent des troubles pulmonaires et intestinaux graves nécessitant l’hospitalisation de 137 des hommes ; six d’entre eux en moururent.


21Mais ce qui caractérisa l’ensemble des Asiatiques ainsi exilés en Guyane fut leur capacité à s’organiser pour résister aux pressions diverses des autorités françaises.


22A Cayenne, en juillet, les hommes demandèrent une augmentation des rations de viande et de riz, exigeant que les vivres soient fournis en quantité égale à celle donnée en Indochine. Devant le refus du Gouverneur, un mouvement de grève de la faim apparut, aussitôt maté par une sévère répression : quelques hommes semblent avoir été nourris de force.


23Cette rébellion à peine maîtrisée, une bagarre éclata à l’hôpital entre un malade et un infirmier, lui-même condamné asiatique. Le malade fut envoyé dans les locaux disciplinaires ce qui déclencha immédiatement une nouvelle grève de la faim dans le camp. Le Gouverneur usa de nouveau de la force face à ce qu’il considérait comme des manifestations d’indépendance provoquées par les « meneurs [présents] (...) dans ce contingent très spécial ».


24Un peu plus tard, les Indochinois se trouvant dans les camps spéciaux créés à leur intention, des troupes sénégalaises furent affectées à leur surveillance. Les prisonniers manifestèrent immédiatement une vive « répugnance vis à vis des tirailleurs sénégalais qu’ils jugent inférieurs à eux et la stricte surveillance maintenue par les premiers paraît aux asiatiques d’autant plus lourde que ce sont des noirs qui l’exercent » constatait le Gouverneur. Les condamnés voyaient un signe de mépris dans ce choix des autorités et exigèrent des surveillants blancs. Les tirailleurs sénégalais firent également preuve de « répugnance » à l’égard des prisonniers. Le Gouverneur, devant ce« mouvement d’excitation collective », demanda à Paris, de toute urgence,« des sous-officiers européens blancs [...] pour assurer la direction rationnelle et sans heurts de cette main d’œuvre spéciale ». Racisme ordinaire et réalités de la politique coloniale se dévoilaient sous prétexte de Justice.


25Les années passées en Guyane, dans des conditions sensiblement aussi pénibles que celles connues par le reste de la population pénale, n’entamèrent en rien la cohésion et la combativité du groupe des Indochinois. En novembre 1937, au camp de Crique Anguille, les 152 condamnés présents refusèrent le travail et entamèrent une grève de la faim. 42 d’entre eux furent conduits à Cayenne et nourris de force, sur ordre du corps médical. Ce mouvement avait été provoqué par l’annonce de la libération, avec rapatriement, de quelques-uns des condamnés pour « faits politiques ou connexes à la politique »et non la totalité d’entre eux. Ces hommes se considéraient tous comme des condamnés d’opinion et ils regardaient la mesure partielle de libération comme une injustice.


26Le tribunal de Première Instance de Cayenne, en janvier 1938, condamna 97 de ces Indochinois protestataires à 6 mois de prison, 1 à 1 an de prison, 1 à 1 an de réclusion cellulaire, 24 à 18 mois de réclusion cellulaire. Aucun ne voulut dénoncer « les meneurs » de cette véritable révolte. L’enquête prouva que ces condamnés s’étaient regroupés en une « section », parfaitement structurée, qu’ils avaient des contacts avec la presse et les milieux politiques de métropole, en un mot, qu’ils étaient bien, malgré les dénégations officielles, des militants politiques, opposés à la présence française en Indochine. Un rapport d’inspection, ignoré des autorités, établi en août 1933, n’avait pas manqué de signaler ce que les événements de 1937 et 1938 confirmèrent : ces hommes étaient, dans leur majorité, « des lettrés (ex instituteurs, ex employés de banque, ex élèves de l’Ecole des Arts appliqués d’Hanoï) tous anciens membres de la cellule des sicaires (ce terme, en usage chez les autorités coloniales, traduisait de façon péjorative et impropre »garde rouge« ) du Parti Communiste indochinois ». Le rapport soulignait également leur aisance de parole et leur influence sur leurs codétenus. Il signalait, enfin, l’existence d’une correspondance clandestine régulière entre eux et le Secours Rouge International


27L’organisation administrative des Etablissements Pénitentiaires Spéciaux s’inspira des structures de l’Administration pénitentiaire ; elle comprenait un bureau à Cayenne et deux camps : Crique-Anguille, mis en place à partir d’août 1931, et La Forestière, créé à partir de septembre de la même année mais remplacé par Saut-Tigre, en octobre 1934, car jugé trop proche des camps de l’Administration pénitentiaire au Maroni.


28Crique-Anguille fut déclaré chef lieu de « la circonscription du centre » par arrêté du 19 septembre 1931. Les 3/5 des Indochinois y furent envoyés. Ils devaient assurer le percement des pistes vers les placers d’or. En septembre 1936, cependant, aucune piste n’avait été créée.


29Un service médical spécial fut mis en place. Les médecins ne purent que constater les méfaits provoqués par la nourriture fournie : les légumes secs, chez ces condamnés accoutumés à la consommation de riz, provoquèrent des « coliques » sérieuses ; il fallut des mois d’hésitations pour que les condamnés fussent autorisés à pêcher, le poisson étant la base de leur alimentation et nécessaire à la fabrication du nuoc-mam ; le riz rouge venu d’Indochine s’étant avarié, il fallut en acheter au Surinam. Sur ce fond de malnutrition, se greffèrent les maladies endémiques locales : paludisme, tuberculose. De 1934 à 1936, vingt hommes moururent de « fièvre bilieuse hémoglobinurique ». Plusieurs condamnés se suicidèrent.


30Malgré cela, en 1936, le Gouverneur affirmait l’essai concluant : il avait permis, selon lui, d’ouvrir l’Inini à la colonisation et au progrès. De plus, il déclarait les conditions de vie imposées aux condamnés supérieures à celles du paysan moyen de l’Indochine. La déportation, sous sa plume, prenait des airs de bienfait.


31En octobre 1933, 518 condamnés Indochinois se trouvaient sur le territoire de l’Inini. Le Gouverneur de la Guyane demandait alors avec insistance la reprise des convois d’Indochinois, car, déclarait-il, « Il faut peupler à tout prix d’une façon stable ces colonies qui se meurent lentement ». En 1934, l’attribution de concessions fut envisagée et une somme de 50.000 francs fut inscrite au budget, dans le but de couvrir les frais de voyage des familles asiatiques qui désireraient rejoindre un condamné. Ceci pouvant « être l’amorce d’une immigration dirigée dont il ne fait aucun doute, écrivait le Gouverneur, que les Indochinois, avec leur qualité de travail et d’intelligence, seraient des auxiliaires précieux pour la mise en valeur de l’Inini ».


32Les qualités de ces Indochinois étaient si goûtées du Gouverneur qu’il en employait lui-même 11 dans son palais, sans qu’il lui en coûtât un sou. Paris finit par trouver le procédé abusif, ces hommes devant consacrer leurs forces, selon le Ministre, à la construction des pistes et non à l’entretien des planchers de la résidence officielle et au service de table de la famille.


33En 1937, 7 concessionnaires Indochinois étaient installés à Crique Anguille, 4 à Saut Tigre ; un Indochinois travaillait sur les chantiers aurifères de la Société Nouvelle de Saint-Élie et 4 autres étaient employés dans des exploitations d’agriculture et de pêche. Ces hommes, comme tous les libérés présents en Guyane, étaient soumis à des limitations de circulation qui entravaient leurs possibilités d’approvisionnement et, surtout, avaient un effet moral particulièrement négatif.
La longue route ou l’incertain retour


34L’élection du Front Populaire, en 1936, déboucha sur une relative clémence des autorités à l’égard des condamnés toujours présents en Indochine. Le Gouverneur Général de cette colonie, devant un mouvement de grâce qu’il jugeait trop généreux, crut devoir rappeler à Paris le danger présenté par ces libérations anticipées, les libérés retournant à leurs activités politiques subversives dès le seuil des camps et prisons franchis.


35Les condamnés transportés en Guyane, pour leur part, fondèrent de grands espoirs sur le nouveau gouvernement et se montrèrent déçus en apprenant que seuls 19 d’entre eux, déclarés subitement officiellement « condamnés politiques », étaient graciés et autorisés au retour [Décret du 29 septembre 1936].


36Finalement, ce fut un groupe de 15 hommes, les autres ayant disparu, morts ou évadés, qui transita par Saint-Nazaire et Marseille en route pour l’Indochine. Une surveillance attentive fut mise en place autour d’eux en métropole. Cette véritable escorte avait pour mission de « les accompagner, [...] les guider et les conseiller » ; dans les faits, elle surveilla et entrava la libre circulation des Indochinois. Cependant, à peine parvenus en métropole, où ils furent pris en charge par le Comité de Rassemblement des Indochinois de France, ces libérés demandèrent la libération de leurs compagnons restés en Guyane. Parallèlement, ils demandaient que des instructions fussent données en Indochine afin de n’avoir pas à subir de mesures contraignantes dans leur pays d’origine.


37En 1938, les Cambodgiens furent à leur tour rapatriés : le Ministère découvrait, tardivement, que l’obligation à résidence ne pouvait légalement leur être opposée.


38La France, malgré des remises de peine et des mesures de grâce faites sous la pression de l’opinion publique et l’intervention de la Ligue des Droits de l’Homme, n’avait pas renoncé pour autant à son projet initial de colonisation par ces condamnés d’Extrême-Orient : un arrêté du 18 septembre 1936 fixait la surface et les conditions d’attribution des concessions aux Indochinois de l’Inini ; le 11 avril 1938, le Gouverneur revenait sur le sujet, ce qui tendrait à prouver que le rapatriement des condamnés issus de notre colonie d’Asie n’était pas inscrit à l’ordre du jour, ceci contre l’attente d’une partie de la classe politique française et des intéressés eux-mêmes.


39En Guyane, la seconde guerre mondiale fut assortie de restrictions alimentaires drastiques et la population pénale, toutes origines confondues, fut la première à en souffrir. Le ralliement à la France Libre, le 16 mars 1943, apporta un personnel administratif nouveau et engendra des modifications dans la gestion de l’ensemble de l’élément pénal.


40« Dans le cadre général de simplification et de réorganisation du bagne » en attendant sa « liquidation », ordonnée par Alger le 4 mai 1944, les condamnés des camps spéciaux de l’Inini furent regroupés dans les camps généraux de l’Administration pénitentiaire [décision du 6 décembre 1944] c’est à dire dans les camps du « bagne ». Comme cela avait toujours été le cas, les autorités veillèrent cependant à ce que ces condamnés ne soient pas mêlés au reste des détenus.


41Les anciens transportés de droit commun, issus du « bagne » colonial général, quittèrent la Guyane à partir de juillet 1946. Les derniers hommes en cours de peine, avec les services de l’Administration pénitentiaire, regagnèrent la France en août 1953. Le « bagne » colonial avait vécu.


42Le rapatriement des anciens condamnés de l’Inini, pour sa part, ne commença qu’en 1954 et se termina en 1963. L’Indochine était indépendante depuis 1954.


43Au début de l’année 2000, il restait en Guyane française au moins un ancien condamné arrivé dans la Colonie avec le convoi de 1931. Il avait fondé une famille, et, malgré son grand âge, témoignait encore sur cette page déshonorante de l’histoire de la France colonisatrice. Il rappelait les violences de son arrestation puis de sa condamnation en Indochine ; il disait sa désespérance de la déportation et du travail forcé ; il soulignait la présence de condamnés de droit commun parmi les politiques ; il décrivait son labeur harassant sur les placers, sa libération venue, puis ses attaches avec la Guyane, devenue sonpays.


44En Guyane, aujourd’hui encore, les méthodes de pèche introduites par les condamnés d’Indochine sont toujours utilisées. Peut-on pour autant conclure, comme le faisait un des responsables de la Guyane en 1938, que « l’expérience » de l’Inini, avec le déracinement de condamnés politiques, a été « positive » ? Nous pouvons, quoi qu’il en soit, affirmer que ce point spécifique de l’histoire du « bagne » de Guyane constitue, à double titre, un moment de l’histoire coloniale de la France.

Haut de page

Bibliographie

Archives


Centre des Archives d’Outre-Mer (Aix-en-Provence)

Série H
Bibliographie


Barbançon Louis-José : L’Archipel des forçats, histoire du bagne de Nouvelle-Calédonie, Lille, Presse Universitaires du Septentrion, 2003.


Donet-Vincent Danielle : « les bagnes des Indochinois en Guyane », Outre-Mer, Revue d’Histoire, Paris, Société Française d’Histoire d’Outre-Mer, 2001, p. 209-223. (Article repris dans : De soleil et de silences : histoire des bagnes de Guyane, Paris, La Boutique de l’Histoire Eds., 2003)
Photographies
Remerciements à Thomas Sagnimorte pour l’illustration de cet article. On trouvera quelques photos supplémentaires sur Crique Anguille sur son site personnel :
http://www.sagnimorte.info/photo_nature.php#carnet_photo3
Haut de page

Table des illustrations

TitreLes vestiges du camp de Crique Anguille (mars 2006)
LégendeMars 2006 : Les vestiges du camp de Crique Anguille, affecté aux détenus indochinois, sont aujourd’hui perdus au cœur de la forêt guyanaise. On distingue sur ce cliché des cellules de réclusion, bâties sur le modèle des cellules de l’île Saint-Joseph.
CréditsCrédit photo : Thomas Sagnimorte www.sagnimorte.info
URLhttp://criminocorpus.revues.org/docannexe/image/182/img-1.jpg
Fichierimage/jpeg, 69k
Haut de page

Pour citer cet article
Référence électronique


Danielle Donet-Vincent, « Les « bagnes » des Indochinois en Guyane (1931-1963) », Criminocorpus [En ligne], Les bagnes coloniaux, Articles, mis en ligne le 01 janvier 2006, consulté le 15 juin 2015. URL : http://criminocorpus.revues.org/182 ; DOI : 10.4000/criminocorpus.182

Haut de page

Auteur
Danielle Donet-Vincent


Danielle Donet-Vincent, docteure en Histoire, est spécialiste de l’histoire de la transportation coloniale. Elle a été membre du groupe de recherche sur l’histoire des prisons de la troisième République, dans le cadre du séminaire dirigé par Robert Badinter et Michelle Perrot à l’EHESS. Elle a notamment publié La fin du bagne 1923-1953 (Rennes, Ouest-France, 1992) et De soleil et de silences : histoire des bagnes de Guyane (Paris, la Boutique de l’histoire, 2003).
Articles du même auteur


Jean-Lucien Sanchez, À perpétuité. Relégués au bagne de Guyane [Texte intégral]


Paris, Vendémiaire, 2013.


Paru dans Criminocorpus, 2014


Louise Michel, de la déportation à l'aventure [Texte intégral]


Les transfigurations d'un châtiment


Paru dans Criminocorpus, Les bagnes coloniaux, Articles


Le rôle des Jésuites dans les débuts des « bagnes » coloniaux de Guyane [Texte intégral]